Tọa đàm tìm hiểu về án lệ của Nhật Bản

Thực hiện Chương trình hợp tác với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) năm 2016, trong hai ngày 26, 27/12/2016, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với JICA tổ chức Tọa đàm tìm hiểu về án lệ của Nhật Bản. Đồng chí Nguyễn Thúy Hiền, Ủy viên Ban cán sự Đảng, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì buổi Tọa đàm.

Tham dự buổi Tọa đàm có ông Đặng Quang Phương, nguyên Phó Chánh án thường trực Tòa án nhân dân tối cao, đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao và một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Về phía Nhật Bản, có sự tham dự của ông Kawanishi Hajime, Cố vấn trưởng Dự án JICA, Giáo sư Murakami Keiichi, nguyên Thẩm phán cao cấp điều hành Tòa án cấp cao Tokyo, ông Sakai Naoki, Thẩm phán và các chuyên gia của Nhật Bản.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Thúy Hiền nhấn mạnh: Nghị quyết số 48 ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch…, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Tiếp đó, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: "Tòa án nhân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ...từng bước thực hiện công khai hóa bản án”.

Thể chế hóa chủ trương trên và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn xét xử trong hệ thống tòa án nhân dân, nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng đã quy định về việc phát triển, công bố và áp dụng án lệ. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2015 quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” (Điều 22). Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 6) và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 45) cũng có quy định về việc áp dụng án lệ trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng. Theo đó, Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp và tư pháp của Nhà nước Việt Nam từ năm 1945 đến nay có quy định về việc phát triển, công bố và áp dụng án lệ.

Để triển khai thi hành các văn bản luật quan trọng nêu trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Theo Nghị quyết này, án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các tòa án nghiên cứu, áp dụng trong hoạt động xét xử.

Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng được các tiêu chí là (i) chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể; (ii) có tính chuẩn mực; và (iii) có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.

Đến tháng 12/2016, Tòa án nhân dân tối cao đã công bố 10 án lệ điển hình, trong đó có 01 án lệ về hình sự, 06 án lệ về dân sự, 02 án lệ về kinh doanh thương mại và 01 án lệ về hành chính. Các án lệ đều được đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao để người dân và các tổ chức, cá nhân tra cứu và áp dụng.

Có thể nói, việc lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ trong thời gian vừa qua là một trong những thành tựu nổi bật của cải cách tư pháp, góp phần áp dụng thống nhất pháp luật, bảo đảm các phán quyết của Toà án đúng pháp luật, bảo đảm công lý, công bằng, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, việc rà soát, lựa chọn các bản án, quyết định của Tòa án làm án lệ cũng còn một số khó khăn, việc triển khai thi hành án lệ trong thực tiễn cũng còn bỡ ngỡ do án lệ vẫn còn là vấn đề mới tại Việt Nam.

Trong thời gian tới đây, việc xây dựng, ban hành và áp dụng án lệ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống Tòa án nhân dân. Trong đó, chúng ta cần tiếp tục lựa chọn các bản án mẫu mực để phát triển thành án lệ, tập trung vào những vấn đề còn vướng mắc, còn có cách hiểu khác nhau trong thực tiễn xét xét. Đồng thời, chúng ta cũng cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao năng lực, kỹ năng cho Thẩm phán, cán bộ Tòa án về nghiên cứu, áp dụng án lệ trong thực tiễn xét xử. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang tiếp tục đẩy mạnh việc học tập kinh nghiệm quốc tế về việc xây dựng và phát triển án lệ cho phù hợp với đặc thù của pháp luật Việt Nam.

Trong hai ngày của Tọa đàm, ông Đặng Quang Phương, nguyên Phó Chánh án thường trực Tòa án nhân dân tối cao đã trao đổi, bình luận về quá trình tuyển chọn, công bố và áp dụng án lệ của Việt Nam hiện nay. Các Thẩm phán, chuyên gia của Nhật Bản đã tập trung giới thiệu tổng quan về chế định án lệ Nhật Bản, kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc phát triển án lệ và bình luận về một số án lệ của Nhật Bản, trong bối cảnh so sánh với án lệ của Việt Nam hiện nay.

Các bài giới thiệu của Thẩm phán, chuyên gia Nhật Bản đã nêu rõ vị trí và vai trò của án lệ. Theo đó, ở những nước áp dụng nguyên tắc luật pháp định (nguyên tắc luật thành văn) như Nhật Bản và Việt Nam, Thẩm phán áp dụng và đưa ra phán quyết dựa trên luật do Quốc hội ban hành, Nghị định do Chính phủ (Nội các) ban hành và các pháp lệnh như lệnh do cơ quan nhà nước địa phương ban hành (Các văn bản quy phạm pháp luật). Tuy nhiên, các quy định của các văn bản luật nêu trên về mặt tính chất vốn mang tính trừu tượng nên không thể tránh khỏi có khác biệt trong cách hiểu nội dung ý nghĩa. Kết quả là ngay cả trong các vụ án hoàn toàn giống nhau hoặc tương tự nhưng nếu Tòa án và thẩm phán khác nhau thì vẫn không tránh khỏi việc đưa ra kết luận khác nhau từ việc giải thích và áp dụng luật khác nhau và điều này trái với nguyên tắc công bằng, bình đẳng. Trong  từng vụ việc cá biệt thì việc xét xử lại do có kháng cáo Phúc thẩm hoặc Giám đốc thẩm được xem là việc sửa sai trong việc giải thích và áp dụng luật không đúng trước đó nhưng để hiệu lực của việc sửa sai đó không lan rộng đến các vụ việc khác thì tự thân việc xét xử ở tòa Phúc thẩm hoặc Giám đốc thẩm nhằm thống nhất cách giải thích và áp dụng luật cũng chỉ có giới hạn.

Vì vậy, để thống nhất được việc giải thích và áp dụng luật, “án lệ” được đặt ở vị trí là phán quyết (văn bản tư pháp) của tòa án cấp trên có thẩm quyền hơn, được dành cho những tiêu chuẩn nhất định, và việc thẩm phán khi xử lý các vụ việc tương tự, cùng loại phải tuân theo án lệ thì gọi là “định chế án lệ”.

Tại Nhật Bản, kể từ tháng 05/1947 trên các Nhật báo đã đăng “Tuyển tập án lệ của tòa án tối cao” và vẫn tiếp tục đăng đến hiện tại. Số vụ án được đăng trong những năm gần đây khoảng 50 - 70 vụ một năm. Tuyển tập án lệ của tòa án tối cao được Ủy ban án lệ đặt trong tòa án tối cao tập hợp và tuyển chọn đăng căn cứ vào (1) Tài liệu bao gồm các vấn đề hiến pháp, pháp luật quan trọng chưa có tiền lệ, (2) Tài liệu bao gồm vấn đề pháp luật được phân chia từ các phán đoán của tòa án cấp dưới, (3) các sự kiên được dư luận chú ý cao, (4) Các ý kiến phản đối quan trọng của thẩm phán ở tòa, (5) Các tiền lệ có giá trị. Các án lệ được đăng tại tuyển tập án lệ của Tòa án tối cao và “tiền lệ có tính ràng buộc được xem như án lệ” không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau (bao gồm “án lệ hướng dẫn/án lệ trường hợp” sẽ được đề cập ở đoạn sau). Với ý nghĩa này “án lệ” là “khái niệm mang tính thực chất,” không phải là thứ được quyết định bằng hình thức đăng trong tuyển tập án lệ của tòa án tối cao (tức là ngay cả việc phán quyết của TAND tối cao được ghi trong tuyển tập án lệ của TAND tối cao thì vẫn có thể nói  rằng “vụ việc này là án lệ” hoặc “vụ việc này không được coi là án lệ.”

Mặc dù chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng các Thẩm phán, chuyên gia của Nhật Bản giới thiệu, chia sẻ rất nhiều kinh nghiệm về án lệ của Nhật Bản. Đây sẽ là những kinh nghiệm quý báu để Việt Nam nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện quy định về lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ trong thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp trong thời gian tới.

Nhân dịp này, thay mặt Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Phó Chánh án Nguyễn Thúy Hiền đã trân trọng cảm ơn JICA đã tài trợ tổ chức Tọa đàm này, cũng như đã và đang hợp tác chặt chẽ với Tòa án nhân dân tối cao thực hiện các chương trình hợp tác, tăng cường năng lực cho Tòa án nhân dân; đồng thời mong muốn tiếp tục nhận được sự hợp tác có hiệu quả của JICA trong năm 2017 và những năm tiếp theo.

Đình Tuyên

Văn bản mới
Hình ảnh trong tuần

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.39363528 - Fax : 04.39393335.
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao