Ngày 06 tháng 11 năm 2015, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

 

1. Phan Long Nhi, sinh năm 1964; thường trú: ấp 2, xã Hội Nghĩa, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; khi phạm tội là Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Hội Nghĩa; trình độ văn hóa 12/12; Đảng phái: Đảng viên đã bị khai trừ; con ông Phan Văn Hoắc (đã chết) và bà Nguyễn Thị Út sinh năm 1930; bị cáo có vợ và 02 con; tiền án tiền sự: Bản án số 31/2009/HSST ngày 21/5/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Phan Long Nhi 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; bị bắt tạm giam lần đầu từ ngày 13/8/2007 đến ngày 16/9/2008 được tại ngoại, bị bắt tạm giam lần hai ngày 17/7/2013.

2. Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1958; thường trú: ấp 2, xã Hội Nghĩa, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; khi phạm tội là Bí thư Đảng ủy xã Hội Nghĩa; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng phái: Đảng viên đã bị khai trừ; con ông Nguyễn Điên, sinh năm 1937 và bà Đào Thị Tiếc (đã chết); có vợ và 02 con; bị bắt tạm giam từ ngày 13/8/2007 đến ngày 11/4/2008 được tại ngoại, bị bắt tạm giam lần thứ hai ngày 17/7/2013.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ủy ban nhân dân xã Hội Nghĩa, huyện Tân An, tỉnh Bình Dương do ông Lý Hoài Phong, sinh năm 1983, cán bộ địa chính là người đại diện theo ủy quyền.

1. Ông Phạm Mạnh Cường, sinh năm 1960; trú tại: số 018 đường ĐT 746 ấp 3, xã Khánh Bĩnh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2. Ông Chung Gia Cường, sinh năm 1979; trú tại: số 36 đường 1A, khu dân cư An Lạc, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, vụ án còn có 12 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

* Người bị hại:

Vụ án có 32 người bị hại.

NHẬN THẤY:

Vào cuối tháng 3/2004, ông Chang Hsieh Ching (Quốc tịch: Đài Loan - Trung Quốc; Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T.O.C) cùng ông Chung Gia Cường (người phiên dịch) gặp ông Phạm Mạnh Cường (người môi giới) để liên hệ tìm địa điểm đầu tư xây dựng 03 nhà máy chế biến gỗ tại xã Hội Nghĩa, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, ông Mạnh Cường đưa ông Gia Cường và ông Chang đến ủy ban nhân dân xã Hội Nghĩa gặp Nguyễn Văn Minh - Bí thư Đảng ủy xã Hội Nghĩa và Phan Long Nhi - Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Hội Nghĩa. Sau khi bàn bạc, Minh và Nhi nhất trí dẫn ông Chang đi xem thực địa khu đất có diện tích khoảng 525.531m2 và được ông Chang đồng ý đầu tư với giá thỏa thuận là 50.000 đồng/m2 đất (bao gồm nhà ở, công trình, cây lâu năm, tài sản khác trên đất và con đường rộng 20m đi vào nhà máy; ông Chang chỉ lấy đất chứ không yêu cầu gì về hoa màu và tài sản trên đất).

Sau khi ông Chang gửi công văn xin được đầu tư xây dựng thì ngày 30/3/2004, Nhi ký Tờ trình số 05/TT gửi ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên đề nghị chấp thuận bố trí địa điểm xây 03 nhà máy chế biến gỗ tại xã Hội Nghĩa. Các thỏa thuận về địa điểm, giá đền bù đất và việc Nhi lấy danh nghĩa ủy ban nhân dân xã Hội Nghĩa làm Tờ trình gửi ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên đều không được thông qua ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và Đảng ủy xã Hội Nghĩa.

Ngày 01/4/2004, ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên có Công văn số 286/CV- UB về việc chấp thuận địa điểm xây dựng 03 nhà máy do ông Chang là đại diện chủ đầu tư. Ngày 06/4/2004, Nhi mời các hộ dân có đất nằm trong dự án đến họp bàn về việc quy hoạch khu công nghiệp. Trong cuộc họp, Nhi và Minh đưa ra ba khung giá đền bù giải tỏa gồm: 45.000 đồng/m2 đối với đất có cây cao su đang thu hoạch mủ; 42.000 đồng/m2 đối với đất có cây cao su chưa thu hoạch mủ hoặc cây điều, tràm; 40.000 đồng/m2 đối với đất trống. Các hộ dân tin tưởng đây là chủ trương của Nhà nước nên đồng ý các nội dung mà Nhi và Minh đưa ra. Tông cộng Nhi đã nhận của ông Chang 26.250.000.000 đồng để giao 525.531m đất. Số tiền đã nhận, Nhi và Minh chi cụ thể như sau: chi 1.283.000.000 đồng để làm đường đi vào nhà máy; chi 22.420.410.000 đồng đền bù cho các hộ dân; chi 226.898.873 đồng đền bù 4.776m2 đất công ích; tổng cộng Nhi đã chi 23.930.308.873 đồng, số tiền chênh lệch thừa 2.319.690.925 đồng Nhi chia 150.000.000 đồng cho Nguyễn Văn Minh; 600.000 000 đồng cho ông Mạnh Cường; 100.000.000 đồng cho Đảng ủy xã Hội Nghĩa; còn lại 1.469.690.925 đồng, Nhi giữ sử dụng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2013/HSST ngày 30/7/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương áp dụng các điểm a, b khoản 4 Điều 280; các điểm b, s khoản 1 Điều 46; Điều 47, (riêng Phan Long Nhi áp dụng thêm Điều 51) Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phan Long Nhi 14 năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Bản án số 31/2009/HSST ngày 21/5/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, buộc Nhi phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 năm tù; xử phạt Nguyễn Văn Minh 12 năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự:

a. Buộc các bị cáo Phan Long Nhi và Nguyễn Văn Minh có trách nhiệm liên đới bồi thường cho 32 hộ dân tiền chênh lệch bán đất tổng cộng là 2.319.690.925 đồng.

b. Buộc bị cáo Phan Long Nhi nộp lại số tiền 135.370.000 đồng để trả lại cho 03 hộ dân là ông Công Đức Phòng, ông Lê Hữu Diễn và ông Lê Quang Huy.

c. Buộc bị cáo Phan Long Nhi phải nộp 226.898.873 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán đất cho Công ty TNHH T.O.C để nộp vào ngân sách nhà nước.

d. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Minh nộp lại 190.000.000 đồng để bồi thường cho các hộ dân.

đ. Buộc ông Phạm Mạnh Cường nộp lại số tiền 570.000.000 đồng xung công quỹ Nhà nước vì đây là tiền thu lợi bất chính. Khấu trừ vào số tiền 700.000.000 đồng ông Cường đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.

e. Tuyên trả lại số tiền 130.000.000 đồng cho ông Phạm Mạnh Cường.

 f. Tách việc tranh chấp giữa ông Phạm Mạnh Cường và Phan Long Nhi về chuyển nhượng 27.074 m2 đất (của các ông Phòng, ông Huy và ông Diễn) cho ông Mai Vương Duy Phương để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi các bên có yêu cầu.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/7/2013 Phan Long Nhi kháng cáo kêu oan.

Ngày 31/7/2013 Nguyễn Văn Minh kháng cáo xin giảm hình phạt.

Ngày 28/7/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có Công văn số 32a/TBSCBS - HS về việc thông báo sửa chữa, bổ sung bản án đối với quyết định:

(...) “Buộc Ông Phạm Mạnh Cưòng nộp lại số tiền 570.000.000 đồng xung công quỹ Nhà nước vì đây là tiền thu lợi hất chính. Khấu trừ vào số tiền 700.000.000 đồng ông Cường đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương”.

Được sửa chữa lại thành:

Buộc ông Phạm Mạnh Cường nộp lại số tiền 570.000.000 đồng vì đây là số tiền thu lợi bất chính mà có, để trả lại cho các hộ dân. Khấu trừ vào số tiền 700.000. 000 đồng ông Cường đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương”

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 465/2014/HSPT ngày 30/7/2014, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên về phần trách nhiệm hình sự.

Về phần trách nhiệm bồi thường dân sự, áp dụng Điều 42 BLHS, Điều 609 BLDS, sửa một phần án sơ thẩm về trách nhiệm bồi thường dân sự:

a. Buộc các bị cáo Phan Long Nhi và Nguyễn Văn Minh có trách nhiệm liên đới bồi thường cho 32 hộ dân tiền chênh lệch bán đất tổng cộng là 2.319.690.925 đồng.

b. Buộc bị cáo Phan Long Nhi phải nộp 226.898.873 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán đất cho Công ty TNHH T.O.C để nộp vào ngân sách nhà nước.

c. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Minh nộp lại 190.000.000 đồng để bồi thường cho các hộ dân.

d. Buộc ông Phạm Mạnh Cường nộp lại số tiền 570.000.000 đồng xung công quỹ Nhà nước vì đây là tiền thu lợi bất chính. Khấu trừ vào số tiền 700.000.000 đồng ông Cường đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.

e. Tuyên trả lại số tiền 130.000.000 đồng cho ông Phạm Mạnh Cường.

f. Tách việc tranh chấp giữa ông Phạm Mạnh Cường và Phan Long Nhi về chuyển nhượng 27.074 m2 đất (của các ông Phòng, ông Huy và ông Diễn) cho ông Mai Vương Duy Phương để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi các bên có yêu cầu.

Ngày 20/10/2014, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 536/TB-TA về việc thông báo sửa chữa, bổ sung bản án đối với quyết định:

Buộc ông Phạm Mạnh Cường nộp lại số tiền 570.000.000 đồng xung công quỹ Nhà nước vì đây là tiền thu lợi bất chỉnh. Khấu trừ vào so tiền 700.000. 000 đồng ông Cường đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương”.

Được sửa chữa lại thành:

Buộc ông Phạm Mạnh Cường nộp lại số tiền 570.000.000 đồng vì đây là số tiền thu lợi bất chính mà có, để trả lại cho các hộ dân. Khấu trừ vào số tiền 700.000.000 đồng ông Cường đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương ”.

Ngày 12/01/2015 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương có Công văn số 23/CTHADS gửi Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao với nội dung: Thông báo sửa chữa bản án của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã làm thay đổi nội dung bản án, trái với quy định tại Điều 240 Bộ luật tố tụng dân sự; kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét lại bán án hình sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm đối với phần trách nhiệm dân sự nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 35/2015/HS-TK ngày 29/5/2015, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 465/2014/HSPT ngày 30/7/2014 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Bản án hình sự phúc thẩm và Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần quyết định: “Buộc ông Phạm Mạnh Cường nộp lại số tiền 570.000.000 đồng vì đây là số tiền thu lợi bất chính mà có, để trả lại cho các hộ dân. Khấu trừ vào số tiền 700.000.000 đồng ông Cường đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương” để xét xử sơ thẩm lại với lý do:

“Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc Minh và Nhi liên đới bồi thường số tiền chênh lệch bản đất còn thiếu cho 32 hộ dân là 2.319.690.925 đồng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại tiếp tục buộc ông Phạm Mạnh Cường nộp 570.000. 000 đồng (khấu trừ vào số tiền 700.000.000 đồng ông Cường đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương) để trả lại cho người dân là vượt quá số tiền chênh lệch mà người dân được đền bù. Mặt khác, số tiền 570.000.000 đồng Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định là tiền ông Cường thu lợi bất chính lẽ ra phải xung công quỹ Nhà nước mới đúng quy định của pháp luật.

Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không phát hiện ra những sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm mà vẫn buộc ông Phạm Mạnh Cường phải nộp số tiền nêu trên đế trả cho 32 hộ dân là không đúng

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY:

1. Về tội danh và hình phạt

Phan Long Nhi và Nguyễn Văn Minh có hành vi lấy danh nghĩa là Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Hội Nghĩa và Bí thư Đảng ủy xã Hội Nghĩa để bàn bạc việc quy hoạch đất tại địa phương mà không thông qua trước tập thể và trình Hội đồng nhân dân quyết định; Nhi còn sử dụng con dấu của ủy ban nhân dân xã để ký hợp đồng với nhà đầu tư, chiếm đoạt của 32 hộ dân 2.319.690.925 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Phan Long Nhi và Nguyễn Văn Minh về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

2. Về phần trách nhiệm dân sự

Tổng số tiền 26.250.000.000 đồng đã nhận từ nhà đầu tư, Phan Long Nhi và Nguyễn Văn Minh bồi thường 23.930.308.873 đồng cho 32 hộ dân; số tiền chênh lệch thừa 2.319.690.925 đồng thì Nhi chia cho Nguyễn Văn Minh 150.000.000 đồng; chia cho ông Phạm Mạnh Cường 600.000.000 đồng; chia cho Đảng ủy xã Hội Nghĩa 100.000.000 đồng, còn lại 1.469.690.925 đồng Nhi giữ sử dụng. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm vừa buộc Nhi, Minh phải liên đới bồi thường 2.319.690.925 đồng cho 32 hộ dân, vừa buộc ông Mạnh Cường nộp lại số tiền 570.000.000 đồng để trả lại cho các hộ dân là vượt quá số tiền mà người dân được hưởng. Lẽ ra, cần phải buộc Minh nộp lại 150.000.000 đồng, Nhi nộp lại 1.469.690.925 đồng và thu hồi tổng cộng 700.000.000 đồng mà ông Mạnh Cường và các cá nhân của Đảng ủy xã Hội Nghĩa đã nhận để trả lại cho các hộ dân vì đây là tiền chênh lệch đền bù đất của các hộ dân mà các bị cáo đã chiếm đoạt, người có liên quan thu lời bất chính. Đối với khoản tiền không có khả năng thu hồi được thì Nhi và Minh có trách nhiệm liên đới bồi thường.

Do vậy cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm về phần trách nhiệm bồi thường dân sự để xét xử lại.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYÉT ĐỊNH:

Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 35/2015/HS-TK ngày 29/5/2015 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 465/2014/HSPT ngày 30/7/2014 (đã được sửa chữa, bổ sung tại Thông báo số 536/TB - TA ngày 20/10/2014) của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2013/HSST ngày 30/7/2013 (đã được sửa chữa, bổ sung tại Thông báo số 32a/TBSCBS - HS ngày 28/7/2014) của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về phần quyết định trách nhiệm bồi thường dân sự; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đế xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy đinh của pháp luât.

 

 

Hiện thuộc tính quyết định

Tìm kiếm quyết định khác

Ngày ban hành   từ ngày date picker   đến ngày date picker
Mã số
Tên quyết định
Địa dư
Lĩnh vực
Cấp xét xử
Nội dung
Điều kiện tìm kiếm: và  hoặc Bộ gõ tiếng việt: Tắt   Telex  VNI
 
Văn Bản Mới