Ngày 06 tháng 11 năm 2015, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp về hợp đồng tín dụng, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương, có trụ sở tại 02C Phó Đức Chính, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Thành Tân - Trưởng phòng thẩm định và bà Nguyễn Thị Bích Nga - Trưởng phòng tín dụng làm đại diện theo Giấy ủy quyền số 300/GUQ/HC-2012 ngày 19/6/2012 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương.

Bị đơn: Công ty TNHH rượu Vạn Phát, có trụ sở tại Km32, Quốc lộ 25, thôn Mặc Hàn, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên; do bà Bùi Thị Quy- Giám dốc Công ty làm đại diện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Bùi Thị Quy, cùng trú tại số nhà 839 Lũy Bán Bích, phường Tân Thành, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh; do bà Bùi Thị Quy làm đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 21/3/2012 của ông Nguyễn Thanh Sơn.

NHẬN THÂY:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28/7/2011 của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án, thì thấy:

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cho Công ty TNHH rượu Vạn Phát (sau đây gọi tắt là Công ty rượu Vạn Phát) vay tiền theo 04 hp đồng tín dụng, gồm: Hợp đồng tín dụng trung - dài hạn số 173/2005/HĐTD-TDH-DN ngày 09/9/2005; số 50/2006/HĐTD-TDH-DN ngày 01 /3/2006; số 250/2006/HĐTDDA-DN ngày 30/11/2006 và số 07/2007/HĐTDDA-DN ngày 08/01/2007 . Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty rượu Vạn Phát vay theo bốn hợp đồng tín dụng nêu trên với tổng số tiền là 91.997.696.573 đồng; mục đích sử dụng tiền vay: đầu tư xây dng nhà máy sản xuất cồn, gas, rượu, phân vi sinh tại thôn Mặc Hàn, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

Tại 04 hợp đồng tín dụng nêu trên các bên thỏa thuận về lãi suất như sau: Lãi suất cho vay năm đầu tiên là 1,2%/tháng; các năm tiếp theo: lãi suất tiết kiệm 12 tháng lãnh lãi sau do Tổng giám đốc Ngân hàng Sài Gòn Công thương công bố từng thời kỳ + 0,45%/tháng; phạt chậm trả đối với nợ gốc quá hạn (lãi suất nợ quá hạn) bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất cho vay và phạt chậm trả nêu trên có thể thay đi theo thông báo từng thời điểm của Ngân hàng Sài Gòn Công thương.

Ngoài lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất nợ quá hạn như nêu trên, tại Hợp đồng tín dụng trung-dài hạn số 173/2005/LIĐTD-TDH-DN ngày 09/9/2005 và Hợp đồng tín dụng trung- dài hạn số 50/2006/HĐTD-TDH-DN ngày 01/3/2006 các bên còn có thỏa thuận về phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay (phạt chậm trả lãi) như sau: Chậm trả từ 11 đến 30 ngày: mức phạt 2%, chậm trả trên 30 ngày: mức phạt 5% tính trên số lãi vốn vay chậm trả. Đối với Hợp đồng tín dụng số 250/2006/HĐTDDA-DN ngày 30/11/2006 và Hợp đồng tín dụng số 07/2007/HĐTDDA-DN ngày 08/01/2007 các bên thỏa thuận phạt chậm trả lãi như sau: chậm trả từ 1 đến 30 ngày: mức phạt 2%, chậm trả trên 30 ngày: mức phạt 5% tính trên số lãi vốn vay chậm trả.

Tài sản bảo đảm nợ vay:

Sau khi giải ngân theo các hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng và Công ty rượu Vạn Phát đã ký bốn Phụ kiện nhận nợ và trả nợ số 173/PK-NNTN/2006 ngày 28/02/2006; số 50/PK-NNTN/2006 ngày 15/4/2006; số 250/PK-NNTN/2007 ngày 15/01/2007 và số 07/PK-NNTN/2007 ngay 30/5/2007. Trong các “Phụ kiện nhận nợ và trả nợ” nói trên, tại mục 3 đều có ghi “tài sản bảo đảm nợ vay”:

- Một phần trị giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại 839 Lũy Bán Bích, phường Tân Thành, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (trị giá 48.843.000.000 đồng);

- Một phần trị giá quyền sử dụng đất và tài sán gắn liền với đất tọa lạc tại 576 Lũy Bán Bích, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (trị giá 22.320.000.000 đồng);

- Cam kết thế chấp toàn bộ nhà xưởng, máy móc thiết bị của dự án đầu tư xây dụng nhà máy cồn-gas, rượu, phân vi sinh tại tỉnh Phú Yên (tài sản này thuộc quyền sở hữu của Công ty rượu Vạn Phát).

Ngoài việc thể hiện về các tài sản bảo đảm trong các Phụ kiện nhận nợ và trả nợ nêu trên, ngày 29/4/2009, ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Bùi Thị Quy (Bên thế chấp) cùng với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (Bên nhận thế chấp) và Công ty TNHH rượu Vạn Phát (Bên vay) ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 58/HĐBĐ-2009. Theo hợp đồng thế chấp này, ông Sơn và bà Quy đồng ý dùng tài sản là quyền sử dụng 3.618 m2 đất và tài sản gắn liền với đất (nhà có diện tích xây dng 3483,6m2, diện tích sử dụng 4.413,4m2) thuộc một phần thửa 1 tờ bản đồ s77, tọa lạc tại số 839 Lũy Bán Bích, phường Tân Thành, quận Tân Phú, (số cũ là 220Bis hương lộ 14, phường 17, quận Tân Bình) Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 169857 của Ủy ban nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Bùi Thị Quy ngày 27/4/2005), có tổng giá trị là 103.510.000.000 đồng, thế chấp cho Ngân hàng để bảo đảm cho các khoản vay (tổng dư nợ vay và bảo lãnh không vượt quá 73.160.000.000 đồng) của Công ty rượu Vạn Phát tại 04 hợp đồng tín dụng nêu trên và Hợp đồng tín dụng số 109/2007/HĐTDNH-HM ngày 16/5/2007. Trong hợp đồng thế chấp này còn thể hiện: nhà và đất nói trên còn được thế chấp đ bảo đảm cho khoản vay (tổng dư nợ vay và bảo lãnh không vượt quá 20 tỷ đồng) của Chủ Doanh nghiệp tư nhân dệt may thương mại Vạn Phát (do bà Bùi Thị Quy làm chủ) tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương theo Hợp đồng thế chp tài sản s 59/HĐBĐ-2009 cùng ngày 29/4/2009. Hợp đồng thế chấp này được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Riêng đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại 576 Lũy Bán Bích, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh và toàn bộ nhà xưởng, máy móc thiết bị của dự án đầu tư xây dng nhà máy côn-gas, rượu, phân vi sinh tại tỉnh Phú Yên thì các bên không ký kết hợp đồng thế chấp.

Tính đến ngày 27/7/2011, Công ty rượu Vạn Phát chỉ thanh toán được 2.400.000.000 đồng tiền gốc và 12.997.713.704 đồng tiền lãi. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty rượu Vạn Phát thanh toán 174.779.285.912 đồng (trong đó nợ gốc 89.597.696.573 đồng và nợ lãi (lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi) 85.181.589.339 đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng, nếu không thanh toán được thì đề nghị cho phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Đại diện bị đơn trình bày:

Công ty rượu Vạn Phát còn nợ Ngân hàng số tiền gốc theo 04 hợp đồng tín dụng như đại diện Ngân hàng trình bày là đúng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 839 Lũy Bán Bích, phường Tân Thành, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Công ty rượu Vạn Phát không thế chấp gì cho Ngân hàng. Công ty rượu Vạn Phát có cam kết thế chấp nhà xưởng, máy móc thiết bị sản xuất cồn, gas C02, rượu, phân vi sinh tại Km 32 Quốc lộ 25 thôn Mặc Hàn, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên cho Ngân hàng nhưng cam kết này đa bị hủy bỏ và Công ty không ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng (Biên bản phiên tòa sơ thẩm - BL 644).

Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, Công ty rượu Vạn Phát đề nghị được trả nợ gốc trong thời hạn 04 năm, chia đều cho mỗi năm và không đồng ý trả lãi vì do tình hình bất khả kháng Công ty không sản xuất được và một phần do Ngân hàng không hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp khi gặp khó khăn.

Ngưi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà Bùi Thị Quy đại diện trình bày: để bảo lãnh nợ vay cho Công ty rượu
Vạn Phát, v
chng ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Bùi Thị Quy đã thể chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 839 Lũy Bán Bích theo Hợp đồng thế chấp số 58/HĐBĐ-2009 ngày 29/01/2009 đã được đăng ký thế chấp như đại diện Ngân hàng trình bày là đúng, đến hạn trả nợ Công ty rượu Vạn Phát không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đồng ý cho phát mại tài sán thế chấp để thu hồi nợ.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2012/KDTM-ST ngày 09/4/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định:

“Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương.

- Buộc Công ty TNHH rượu Vạn Phát có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương số tiền 174.779.285.912 đồng (trong đó nợ gốc 89.597.696.573 đồng và nợ lãi 85.181.589.339 đồng) và lãi phát sinh cho đến ngày thanh toán dứt điểm số tiền này theo lãi suất tại các hợp đng tín dụng hai bên đã ký kết.

- Trường hợp Công ty TNHH rượu Vạn Phát không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương được quyền phát mại tài sản bảo lãnh của bên thứ ba, cụ th: một phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 839 Lũy Bán Bích, phường Tân Thành, quận Tân Phú, thành ph H Chí Minh thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Bùi Thị Quy theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 169857 do UBND huyện Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/4/2005 tương ứng với dư nợ gốc 73.160.000.000 đồng và lãi phát sinh tương ứng với dư nợ gốc 73.160.000.000 đồng. Và toàn bộ máy móc thiết bị và công trình trên đất tại Km32 Quốc lộ 25 tại thôn Hàn Mặc, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên của Công ty TNHH Vạn Phát.

- Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương đòi được quyền yêu cầu phát mại nhà xưởng và dây chuyền sản xuất đường và quyền sử dụng đất tại Km 32 Quốc lộ 25 tại thôn Hàn Mặc, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

- K từ ngày Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty TNHH rượu Vạn Phát chưa thanh toán đủ số tiền thuộc nghĩa vụ của mình thì hàng tháng Công ty TNHH rượu Vạn Phát cn phải tr lãi theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả”.

Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/4/2012, Công ty rượu Vạn phát có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 61/2012/KDTM-PT ngày 28/8/2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định không chấp nhận kháng cáo của Công ty rượu Vạn Phát, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.                                                                                                                             

Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty rượu Vạn Phát có nhiều đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Ngày 01/10/2012, Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Tài (viết tắt là BIDV Phú Tài) có đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục tái thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 13/2014/KN-KDTM ngày 09/5/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 61/2012/KDTM-PT ngày 28/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2012/KDTM-ST ngày 09/4/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY:

Đối vi thỏa thuận về tiền lãi và thỏa thuận về phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay (phạt chậm trả lãi) của các bên trong các hợp đồng tín dụng nêu trên thấy:

Việc các bên thỏa thuận về lãi trong hạn, phạt chậm trả đối với nợ gốc quá hạn (lãi suất nợ quá hạn) bằng 150% lãi suất trong hạn là đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng; Điều 11 quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001, được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/2/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).

Tuy nhiên, các bên còn có thỏa thuận về phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay (phạt chậm trả lãi) với mức 2% hoặc 5% tính trên số lãi vay chậm trả là không đúng quy định tại khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty rượu Vạn Phát phải thanh toán cho Ngân hàng 2.163.143.899 đồng tiền phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay (phạt chậm trả lãi) là không đúng pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định: “Buộc Công ty TNHH rượu Vạn Phát có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương s tiền 174.779.285.912 đồng (trong đó nợ gốc 89.597.696.573 đồng và nợ lãi 85.181.589.339 đồng) và lãi phát sinh cho đến ngày thanh toán dứt điếm số tiền này theo lãi suất tại các hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết “K từ ngày Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty TNHH rượu Vạn Phát chưa thanh toán đủ s tiền thuộc nghĩa vụ của mình thì hàng tháng Công ty TNHH rượu Vạn Phát còn phải trả lãi theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết tương ng với thời gian và số tiền chậm trả” là không dúng, gây thiệt hại cho Công ty rượu Vạn Phát, vì như vậy thì khoản 85.181.589.259 đồng tiền lãi phải chịu thêm một lần lãi trong hạn nữa là lãi chồng lãi (khoản lãi phải chịu lãi nhiều lần).

Mặc khác, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên thời điểm tiếp tục chịu lãi (tính từ khi Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án) là không đúng; thời điểm tiếp tục chịu lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo các hợp đồng tín dụng phải được tính từ ngày tiếp sau ngày xét xử sơ thẩm mới đúng.

Về việc xử lý tài sản thế chấp:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 839 Lũy Bán Bích, phường Tân Thành, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vừa được thế chấp bảo đảm cho khoản vay của Công ty rượu Vạn Phát vừa được thế chấp để bảo đảm cho khoản vay (tổng dư nợ vay và bảo lãnh không vượt quá 20 tỷ đồng) của Chủ Doanh nghiệp tư nhân dệt may thương mại Vạn Phát (do bà Bùi Thị Quy làm chủ) tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 59/HDBĐ-2009 ngày 29/4/2009. Do dó, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: “Trường hợp Công ty TNHH rượu Vạn Phát không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương được quyền yêu cầu phát mại tài sản bảo lãnh của bên thứ ba, cụ thể: Một phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 839 Lũy Bán Bích, phường Tân Thành, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Nguyễn Thanh Sơn, bà Bùi Thị Quy theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD169857 do y ban nhân dân huyện Tân Phú, Thành ph H Chí Minh cp ngày 27/4/2005 tương ứng với s dư nợ gốc 73.160.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh tương ứng với dư nợ gốc 73.160.000.000 đồng” sẽ gây khó khăn khi thi hành án và không đúng hướng dẫn tại khoản 2 Điều 58 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm (“Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm; nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật”).

Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định: “Trường hợp Công ty TNHH rượu Vạn Phát không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương được quyền yêu cầu phát mại...toàn bộ máy móc thiết bị và công trình trên đất tại Km32 Quốc lộ 25, thôn Mặc Hàn, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tnh Phú Yên của Công ty TNHH rượu Vạn Phát” cũng là không đúng và không th thi hành được. Bởi vì hai bên không ký hợp đồng thế chấp. Công ty rượu Vạn Phát chỉ mới “Cam kết thế chấp toàn bộ nhà xưởng, máy móc thiết bị của dự án đầu tư xây dng nhà máy cồn-gas, rượu, phân vi sinh...” tại Km 32 quốc lộ 25 thôn Mặc Hàn, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên trong các Phụ kiện nhận nợ và trả nợ. Trong khi đó, theo tài liệu, chứng cứ do BIDV Phú Tài gửi kèm theo đơn đề nghị giám đốc thẩm thì Công ty rượu Vạn Phát đã đem “Công trình xây dng của nhà máy sản xuất đường, cồn, rượu, phân vi sinh tng hợp...“toàn bộ máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất của hệ thống sản xuất đường, cồn, rượu, phân vi sinh tổng hợp” tại Km 32 quốc lộ 25 thôn Mặc Hàn, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên thế chấp cho BIDV Phú Tài theo các Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2011/HĐTC ngày 21/6/2011 và số 02/2011/HĐTC ngày 22/6/2011 để bảo đảm cho các khoản vay của Công ty TNHHsản xuất - thương mại tổng hợp Vạn Phát tại BIDV Phú Tài. Các hợp đồng thế chấp nêu trên đều được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Như vậy, toàn bộ máy móc thiết bị và công trình trên đất tại Km32 Quốc lộ 25, thôn Mặc Hàn, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên của Công ty TNHH rượu Vạn Phát đã được thế chấp cho BIDV Phú Tài nên không thể thi hành quyết định nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm được.

Khi giải quyết vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không biết việc thế chấp nêu trên nên đã không đưa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam vào tham gia tố tụng. Khi giải quyết lại vụ án này, cần phải đưa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chủ doanh nghiệp tư nhân dệt may thương mại Vạn Phát vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết vụ án (phần liên quan đến tài sản trên) đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 4 Luật thương mại để giải quyết vụ án này là không đúng.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011);

QUYT ĐỊNH:

1- Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 61/2012/KDTM-PT ngày 28/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2012/KDTM-ST ngày 09/4/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương với bị đơn là Công ty TNHH rượu Vạn Phát;

2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

Hiện thuộc tính quyết định

Tìm kiếm quyết định khác

Ngày ban hành   từ ngày date picker   đến ngày date picker
Mã số
Tên quyết định
Địa dư
Lĩnh vực
Cấp xét xử
Nội dung
Điều kiện tìm kiếm: và  hoặc Bộ gõ tiếng việt: Tắt   Telex  VNI
 
Văn Bản Mới