Quyết định của tòa kinh tế

Quyết định giám đốc thẩm về vụ án "kinh doanh, thương mại tranh chấp về hợp đồng dịch vụ"

Ngày 15/7/2009, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp về hợp đồng dịch vụ, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:  Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ; có địa chỉ tại 152-154 Trần Hưng Đạo, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; do ông Bùi Quang Nhơn làm đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 12/05/2006 của Giám đốc Công ty;

Bị đơn:  Ông Nguyễn Hữu Mộc – Chủ cơ sở Hoàng Tuấn; có địa chỉ tại B11/16 ấp 2- xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh; do ông Trần Văn Mây làm đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 17/5/2006 của ông Mộc;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Ông Trần Văn Mây, địa chỉ: 718 B D20 Hùng Vương, P13, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh;

2- Bà Nguyễn Thị Ỷ, địa chỉ: khu phố 2, thị trấn Bến Lức, Long An. Bà Ỷ ủy quyền cho ông Trần Văn Mây theo Giấy ủy quyền ngày 18/5/2006.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện (không đề ngày), lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình thì thấy:

Ngày 01/8/1998, Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ (sau đây gọi tắt là Công ty nông sản Cần Thơ) – Bên A ký với ông Trần Văn Mây (với tư cách Chủ cơ sở Hoàng Tuấn) Hợp đồng hợp tác chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH 98 với nội dung chính (tóm tắt) như sau: Bên A có trách nhiệm:

“…Chuẩn bị mặt bằng để chế biến nấm rơm muối xuất khẩu; ký hợp đồng xuất khẩu; tổ chức bộ máy quản lý…; tổ chức giao nhận xuất hàng tại cảng; vay hộ vốn lưu động để thanh toán theo tiến độ mua nấm rơm nguyên liệu mỗi ngày trên cơ sở hợp đồng xuất khẩu đã ký. Khi bắt đầu sản xuất, bên A có thể ứng trước tiền hàng tương đương với giá trị 02 container hàng để bên B mua nguyên liệu (mua dự trữ ban đầu) chờ ký hợp đồng xuất…”;

- Bên B (Cơ sở Hoàng Tuấn) có trách nhiệm:

“…Tổ chức thu mua nguyên liệu, chịu trách nhiệm về giá mua, chất lượng nguyên liệu hao hụt gia công và chất lượng, số lượng hàng thành phẩm xuất khẩu, tự bỏ vốn đầu tư trang thiết bị để phục vụ cho chế biến nấm rơm muối xuất khẩu; chịu trách nhiệm tìm khách hàng nước ngoài mua hàng, đàm phán giá xuất khẩu để bên A trực tiếp ký Hợp đồng xuất khẩu và nếu chất lượng hàng xuất khẩu không đạt yêu cầu bị khách hàng giảm giá hoặc trả lại hàng thì bên B phải hoàn trả lại cho bên A về tiền hàng và toàn bộ chi phí phát sinh của lô hàng này; trường hợp hàng đã sản xuất xong, lưu kho tối đa 90 ngày mà không có khách hàng mua thì bên B phải hoàn trả lại cho bên A toàn bộ tiền hàng và tất cả chi phí phát sinh có liên quan…; trong trường hợp bên B không có khả năng tiêu thụ được hàng đã sản xuất hoặc kinh doanh không có hiệu quả phải chấm dứt hợp đồng thì bên B phải thanh toán toàn bộ tiền vốn cho bên A trong thời hạn 30 ngày…; thời hạn hợp đồng là 3 năm kể từ ngày 01/8/1998 đến 01/8/2001…”.

Ngoài ra, hai bên còn thỏa thuận trong trường hợp phát sinh mâu thuẫn không thỏa thuận được, thì hai bên đồng ý đưa ra Tòa Kinh tế tỉnh (nay là thành phố) Cần Thơ giải quyết.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty nông sản Cần Thơ vay vốn ứng trước cho ông Mây để ông Mây tiến hành công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng do phía ông Mây bán hàng tiền thu vào không cân đối nên dẫn đến còn nợ Công ty nông sản Cần Thơ. Đến ngày 31/3/2002, Công ty nông sản Cần Thơ và ông Mây có Biên bản đối chiếu công nợ số 02/BB 2002 với số tiền ông Mây nợ là : 1.244.833.843 đồng.

Công ty nông sản Cần Thơ nhiều lần gửi công văn yêu cầu ông Mây thanh toán tiền nợ cho Công ty nhưng ông Mây không đến. Nay Công ty nông sản Cần Thơ yêu cầu ông Mây phải có  trách nhiệm trả cho Công ty số tiền nợ gốc là 1.244.833.843 đồng cộng với lãi phát sinh từ số tiền trên tính từ tháng 4/2002 với lãi suất là 0,85%/tháng.

Theo lời trình bày của ông Trần Văn Mây - đại diện bị đơn thì: Ông Nguyễn Hữu Mộc là dượng của ông Mây đứng ra xin giấy phép kinh doanh mang tên Cơ sở Hoàng Tuấn nhưng thực chất ông Mây là nguời quản lý cơ sở. Vì ông Mây có tay nghề và có khách nước ngoài nên Công ty nông sản Cần Thơ mới hợp tác với ông Mây với tư cách là nhân viên kỹ thuật của phân xưởng sản xuất chế biến nấm rơm muối xuất khẩu. Công ty nông sản Cần Thơ yêu cầu Ông ký Hợp đồng hợp tác mua chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH98 ngày 01/8/1998 thì Công ty mới ứng vốn cho phân xưởng sản xuất chứ không phải ứng cho Cơ sở Hoàng Tuấn. Anh Lý và anh Thương là người của Công ty nông sản Cần Thơ giao tiền cho Ông để tiến hành thu mua sản xuất nấm rơm cho phân xưởng. Hàng xuất là do Công ty nông sản Cần Thơ quản lý, xuất hóa đơn; các hợp đồng mua bán với đối tác nước ngoài đều do Công ty nông sản Cần Thơ theo dõi thu tiền (BL 351).

Ngày 01/8/1998, Công ty nông sản Cần Thơ yêu cầu Ông ký biên bản với số công nợ 1.403.593.843 đồng; các khoản kê ra đúng như thực tế nhưng là do lỗi của Công ty; nhưng vì vẫn muốn hợp tác để giải quyết vấn đề này nên Ông đã ký vào biên bản để được Công ty tiếp tục ứng vốn. Biên bản đối chiếu công nợ số 02/BB 2002 ngày 31/3/2002 là do Ông ký, số nợ đúng với thực tế nhưng không phải Ông nợ Công ty mà là nợ của bên nước ngoài và hàng tồn, cộng với khoản lãi ngân hàng, thực chất hàng tháng Công ty nông sản Cần Thơ yêu cầu Ông ký biên bản như vậy.

Sau khi thụ lý vụ án, ngày 11/3/2004, Tòa án nhân dân tỉnh (nay là thành phố) Cần Thơ ra Quyết định số 04/QĐ- CVA chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết vì cho rằng vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (BL 127).

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2004, Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh buộc cá nhân ông Trần Văn Mây và vợ là bà Nguyễn Thị Ỷ trả số tiền còn nợ 1.244.833,843 đồng (BL 347).

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/9/2004, Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ yêu cầu buộc ông Mây trả số tiền nợ gốc là 877.863.924 đồng và tiền lãi theo mức  0,85%/tháng kể từ tháng 4/2002 (BL 346).

Ngày 14/3/2005, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 46/CVTA chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết với lý do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty YUAN_JEN_SHINE CORP có trụ sở ở nước ngoài.

Ngày 21/7/2005, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 09/2005/DS-ST chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân quận 6 thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thẩm quyền với lý do bị đơn hiện đang cư trú tại 718b đường Hùng vương, phường 13 quận 6, thành phố Hồ Chí Minh (BL. 373).

Ngày 28/12/2005, Tòa án nhân dân quận 6, thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 03/2005/CVA.KDTM-ST chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 30/12/2005, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án.

Ngày 15/3/2006, Công ty nông sản Cần Thơ có đơn khởi kiện Cơ sở Hoàng Tuấn, do ông Nguyễn Hữu Mộc làm Chủ cơ sở và người liên quan là ông Trần Văn Mây và bà Nguyễn Thị Ỷ với  yêu cầu Tòa án xem xét hủy Hợp đồng số 121/KH98 ngày 01/8/1998 và xem xét trách nhiệm của ông Trần Văn Mây trong việc nhận tiền của Công ty nông sản Cần Thơ, buộc gia đình ông Mây, bà Ỷ phải trả cho Công ty số tiền 1.244.833.843 đồng và tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn nêu trên kể từ tháng 4/2002 (BL 538).

            Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 595/2006/KDTM-ST ngày 27/11/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

          “… Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn

           Tuyên bố Hợp đồng hợp tác mua chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH.98 ngày 01/8/1998 giữa Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ và cơ sở Hoàng Tuấn bị vô hiệu toàn bộ.

             Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đòi nợ của Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ đối với ông Trần Văn Mây và bà Nguyễn Thị Ỷ…”

            Ngày 07/12/2006, Công ty nông sản Cần Thơ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm nêu trên.

            Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 52/2007/KTPT ngày 07/6/2007, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

          “…Bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đối với yêu cầu đòi nợ. Tuyên xử:

          Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ; Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu đòi nợ của Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ đối với ông Trần Văn Mây và bà Nguyễn Thị Ỷ …”

            Ngày 28/8/2007, Công ty nông sản Cần Thơ có đơn đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với cả hai bản án nêu trên.

Tại Quyết định số 07/2009/KDTM-KN-TKT ngày 31/3/2009, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 52/2007/KDTM-PT ngày 07/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 595/2006/KDTM-ST ngày 27/11/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 52/2007/KDTM-PT ngày 07/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại kết luận số 18/KL-VKSTC-V12 ngày 02/6/2009 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hoàn toàn nhất trí với Quyết định kháng nghị số 07/2009/ KDTM-KN-TKT ngày 31/3/2009 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 595/2006/KDTM-ST ngày 27/11/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 52/2007/KDTM-PT ngày 07/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty nông sản Cần Thơ cho rằng Hợp đồng hợp tác chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH.98 ngày 01/8/1998 giữa Công ty nông sản Cần Thơ và Cơ sở Hoàng Tuấn là vô hiệu do ông Trần Văn Mây không có tư cách ký hợp đồng. Nội dung của hợp đồng là có, việc nhận tiền, thu mua nấm rơm do ông Mây nhận, ông Mây có biên bản xác nhận công nợ, do đó Công ty yêu cầu ông Mây bà Ỷ có trách nhiệm trả lại tiền (BL587).

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì ngày 01/8/1998, ông Trần Văn Mây (với tư cách Chủ Cơ sở Hoàng Tuấn) và Công ty nông sản Cần Thơ ký kết Hợp đồng hợp tác chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH.98, nhưng theo Giấy phép kinh doanh số 110/GP-UB ngày 09/7/1996 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Cơ sở Hoàng Tuấn, thì ông Nguyễn Hữu Mộc mới là Chủ cơ sở này. Ông Trần Văn Mây không phải là Chủ Cơ sở Hoàng Tuấn nhưng lại ký kết hợp đồng hợp tác chế biến nấm rơm muối xuất khẩu với Công ty nông sản Cần Thơ với tư cách là Chủ cơ sở Hoàng Tuấn; trong khi ông Mộc khai ông chỉ đứng tên Chủ cơ sở dùm cho ông Mây, việc kinh doanh của ông Mây ông Mộc hoàn toàn không biết. Còn ông Mây cũng thừa nhận Ông thực chất là người quản lý Cơ sở Hoàng Tuấn.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông Mây cũng thừa nhận khi ký hợp đồng Ông không được ông Mộc uỷ quyền; việc Ông ký hợp đồng chỉ là hình thức để thành lập phân xưởng nấm rơm xuất khẩu; Ông chỉ là người làm công trong phân xưởng sản xuất chế biến nấm rơm do Công ty nông sản Cần Thơ thành lập; việc đối chiếu công nợ là hoạt động bình thường của phân xưởng, ông ký đối chiếu công nợ với tư cách là nhân viên kỹ thuật của phân xưởng; Công ty nông sản Cần Thơ dựa vào các biên bản đối chiếu công nợ để buộc Ông thanh toán thực tế Ông không được nhận, số tiền này là tiền lỗ, tiền hàng tồn, tiền nợ của khách hàng nước ngoài, tiền lãi suất ngân hàng... của phân xưởng... (BL586, 587).

Tòa án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa xác minh làm rõ bản chất của việc thành lập và hoạt động của Cơ sở Hoàng Tuấn; Tại sao ông Mộc lại giao Giấy phép kinh doanh cho ông Mây? Ông Nguyễn Hữu Mộc có biết việc ông Trần Văn Mây ký kết và thực hiện Hợp đồng hợp tác chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH.98 ngày 01/8/1998 không? Tòa án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ điểm e khoản 1 Điều 168, khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên bố Hợp đồng hợp tác chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH.98 ngày 01/8/1998 giữa ông Mây với tư cách chủ Cơ sở Hoàng Tuấn và Công ty nông sản Cần Thơ bị vô hiệu toàn bộ với lý do: “…ông Trần Văn Mây không có tư cách đại diện của ông Nguyễn Hữu Mộc – Chủ Cơ sở Hoàng Tuấn để ký hợp đồng… Các biên bản gọi là đối chiếu công nợ giữa phân xưởng và Công ty là tài liệu về hạch toán nội bộ của Công ty, không có giá trị về nghĩa vụ pháp lý đối với Cơ sở Hoàng Tuấn do ông Nguyễn Hữu Mộc làm chủ, cũng như không có nghĩa vụ pháp lý đối với ông Trần Văn Mây với tư cách công dân độc lập. Đó là công nợ giữa phân xưởng với Công ty… nên Công ty không có quyền khởi kiện…” (nhận định của bản án sơ thẩm); hoặc “…số tiền nợ là 1.244.833.843 đồng mà Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần thơ có đơn khởi kiện đòi ông Trần Văn Mây (Cơ sở Hoàng Tuấn)…thực chất đây không phải số tiền mà Công ty…đã xuất chi tạm ứng cho người nhận là ông Trần Văn Mây, mà đây là số tiền thua lỗ của phân xưởng… Ông Trần Văn Mây chỉ là người có tay nghề, được phân xưởng… phân công phụ trách kỹ thuật…Còn các Biên bản đối chất công nợ… thực chất là tài liệu hạch toán nội bộ của Công ty…, không có nghĩa vụ pháp lý đối với ông Trần Văn Mây…Do là công nợ giữa phân xưởng… với Công ty…là hạch toán nội bộ Công ty nên Công ty không có quyền khởi kiện…” (nhận định của bản án phúc thẩm) là chưa đủ căn cứ vững chắc và không đúng pháp luật.

Trong hồ sơ vụ án có nhiều tài liệu (từ BL 21 đến BL 316) thể hiện việc ông Mây với tư cách Chủ cơ sở Hoàng Tuấn đã trực tiếp hoặc ký Giấy giới thiệu cho các ông Trần Hữu Sử và Nguyễn Văn Tính đến Công ty nông sản Cần Thơ nhận tiền tạm ứng mua nguyên liệu. Sau đó, đã nhiều lần xác nhận công nợ với tư cách là một bên của hợp đồng. Vì vậy, Công ty nông sản Cần Thơ có quyền khởi kiện Cơ sở Hoàng Tuấn và ông Mây theo hợp đồng. Dù hợp đồng có bị vô hiệu hay không thì cũng phải thanh lý, giải quyết hậu quả của việc thực hiện hợp đồng. 

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng hợp tác chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH.98 ngày 01/8/1998 giữa Công ty nông sản Cần Thơ và Cơ sở Hoàng Tuấn bị vô hiệu toàn bộ nhưng không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu mà đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu đòi nợ của Công ty nông sản Cần Thơ đối với ông Trần Văn Mây và bà Nguyễn Thị Ỷ là không đúng pháp luật. Trong trường hợp có căn cứ để Tòa án tuyên bố Hợp đồng hợp tác chế biến nấm rơm muối xuất khẩu số 121/KH.98 là vô hiệu thì cũng cần phải xem xét, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Khi xét xử phúc thẩm, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã không phát hiện ra sai lầm của Toà án cấp sơ thẩm, mà vẫn quyết định: “... giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đối với yêu cầu đòi nợ” và tuyên xử: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ; Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu đòi nợ của Công ty nông sản thực phẩm xuất khẩu Cần Thơ đối với ông Trần Văn Mây và bà Nguyễn Thị Ỷ …” cũng là không đúng.

Bởi các lẽ trên; căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297; khoản 1, 2 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 595/2006/KDTM-ST ngày 27/11/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 52/2007/KDTM-PT ngày 07/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tệp đính kèm

[Trở về]

  KDTM200907 - XK Can Tho - Hoang Tuan.doc

Hiện thuộc tính quyết định

Tìm kiếm quyết định khác

Ngày ban hành   Từ ngày date picker   Đến ngày date picker
Mã số
Tên quyết định
Tên tòa án giải quyết
Quan hệ pháp luật
Phân loại
Nội dung
Điều kiện tìm kiếm: Và  Hoặc Bộ gõ tiếng Việt: Tắt   Telex  VNI
 
Văn bản mới