Một số sửa đổi bổ sung cơ bản của Bộ luật hình sự năm 2015 (Phần VI)

5

7. Chương XIX Các tội phạm về môi trường

Chương này bao gồm 12 điều luật, quy định từ Điều 235 đến Điều 246. Về cơ bản, các điều luật trong Chương này được kế thừa các quy định của Chương XVII Các tội phạm về môi trường của BLHS năm 1999, nhưng có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:

Một là: Bổ sung các tội danh mới “Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông”. (Điều 238)

“1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Xây nhà, công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ an toàn công trình thủy lợi; đê điều, phòng, chống thiên tai;

b) Hủy hoại hoặc làm hư hỏng công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, trừ trường hợp quy định tại Điều 303 của Bộ luât này;

c) Khoan, đào thăm dò, khảo sát, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép;

d) Sử dụng chất nổ, chất gây nổ, gây cháy trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai; công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, trừ trường hợp có giấy phép hoặc trường hợp khẩn cấp do luật định;

đ) Vận hành hồ chứa nước, bên hồ chứa nước, công trình phân lũ, làm chậm lũ không đúng với quy trình, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, trừ trường hợp đặc biệt thực hiện theo sự chỉ đạo của người có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm chết người;

d) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội theo điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng.

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.

Khách thể của tội phạm này là sự an toàn của các công trình thủy lợi, đê điều, bờ bãi sông và việc phòng chống thiên tai.

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Khách quan của tội phạm thể hiện ở các hành vi quy định tại các điểm từ a đến đ Khoản 1 Điều này nếu thỏa mãn dấu hiệu “gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên hoặc gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

Chủ quan của tội phạm này là hành vi thực hiện bởi lỗi cố ý.

Hai là: Các tình tiết định tội, định khung hình phạt có tính chất định tính, trừu tượng về hậu quả, số lượng trong cấu thành cơ bản và các cấu thành tăng nặng đều đã được quy định cụ thể (lượng hóa cụ thể) trong tất cả các điều luật của Chương này.

Ví dụ: Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Số lượng lớn được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều này là:

“a) Đưa chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm từ 1000 kilôgram đến 3000 kilôgram vào lãnh thổ Việt Nam”.

b) Đưa chất thải khác từ 70.000 kilôgram đến dưới 170.000 kilôgram vào lãnh thổ Việt Nam”.

Số lượng rất lớn được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều này là:

“b) Chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm có khối lượng từ 3000 kilôgram đến 5000 kilôgram;

c) Chất thải khác có khối lượng từ 170.000 kilôgram đến dưới 300.000 kilôgram.

Số lượng đặc biệt lớn được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều này là:

“a) Chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm có khối lượng 5000 kilôgram trở lên;

b) Chất thải khác có khối lượng 300.000 kilôgram trở lên.

Hoặc Hậu quả nghiêm trọng trong cấu thành cơ bản của Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 241) được quy định là “gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”

Hậu quả rất nghiêm trọng của tội phạm này được quy định cụ thể tại Khoản 2:

“a) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.”

Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm này được quy định cụ thể tại Khoản 3:

“a) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn”.

Ba là: Hầu hết các tội phạm trong Chương này đều được sửa theo hướng chia nhỏ các khung hình phạt tăng nặng, thông thường là 04 khung hình phạt. Mặc dù có sự thiết kế lại nhưng các hình phạt tù không thay đổi nhiều. Hình phạt tiền là hình phạt chính được quy định trong hầu hết các điều luật và được quy định ở cả Khoản 2 của điều luật (Điều 235, 236, 237, 238, 239, 242). Mức hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đều được nâng cao hơn các quy định trước đây của BLHS năm 1999.

Bốn là: Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội: Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235), Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237), Tội vi phạm quy định về bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; Vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238), Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239), Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242), Tội hủy hoại rừng (Điều 243), Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm (Điều 244), Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 245), Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246).

8. Chương XX Các tội phạm về ma túy

Chương XX Các tội phạm về ma túy gồm 13 điều, từ Điều 247 đến Điều 259. So với Chương này của BLHS năm 1999 tăng 4 điều luật. Các điều luật tăng thêm là do được tách ra từ các điều luật quy định là tội ghép. Về cơ bản, chính sách hình sự đối với các tội phạm về ma túy không thay đổi. Các tội phạm về ma túy là các tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội, việc quy định các hình phạt nghiêm khắc đối với các tội phạm này là rất cần thiết nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm rất nguy hiểm và ngày càng gia tăng này.

Một số sửa đổi, bổ sung cơ bản của Chương này:

Một là: Tách các tội danh được quy định ghép trong một điều luật quy định tại BLHS năm 1999 thành các điều luật quy định tội danh riêng.

Ví dụ 1: Điều 194 BLHS năm 1999 quy định 04 tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tội vận chuyển trái phép chất ma túy; Tội mua bán trái phép chất ma túy và Tội chiếm đoạt chất ma túy. Các tội phạm quy định trong Điều 194 BLHS năm 1999 được tách riêng thành các tội mới của BLHS năm 2015:

- Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249)

- Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250)

- Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251)

- Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252)

Ví dụ 2: Điều 200 BLHS năm 1999 quy định hai tội phạm: Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy và Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hai tội phạm này được tách ra thành hai tội riêng của BLHS năm 2015

- Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257)

- Tôi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258)

Việc tách các tội danh trong các tội ghép thành các tội riêng nhằm đảm bảo việc quy định và áp dụng chế tài hình phạt chính xác hơn đối với tính chất nguy hiểm của từng hành vi phạm tội, đồng thời cũng đảm bảo tính minh bạch trong xử lý tội phạm.

Hai là: Sửa đổi, bổ sung Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 192 BLHS năm 2015) thành tội:

Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy.

Khoản 1 của Điều này được thiết kế theo hướng quy định rõ các dấu hiệu của tội phạm.

“1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thuộc một trong các tường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã được giáo dục 02 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3000 cây.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Với số lượng trên 3000 cây;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

4. Người nào phạm tội thuộc Khoản 1 Điều này, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa là hành vi gieo, ươm cây giống hoặc trồng cây giống nhằm mục đích thu hoạch các sản phẩm từ các loại cây có chất ma túy này để sử dụng hoặc mua bán, trao đổi. Trong thực tế, việc trồng cây thuốc phiện hoặc các cây khác có chứa chất ma túy thường do đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện. Tuyên truyền, giáo dục, vận động bà con không trồng các loại cây có chứa chất ma túy là chủ trương của Nhà nước. Chỉ xử lý hình sự nếu đã được giáo dục 02 lần trở lên, đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc bị kết án về tội này chưa được xóa án tích và số lượng cây thuốc phiện, cây cần sa, cây cô ca hoặc cây có chứa chất ma túy khác từ 500 cây trở lên.

Để khuyến khích người phạm tội này tự giác giao nộp hoặc tự phá bỏ việc trồng cây có chứa chất ma túy, điều luật này bổ sung Khoản 4 để có thể miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.

Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, dự thảo của BLHS này đã bổ sung các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt cây giống cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy. Tuy nhiên, các hành vi này không được quy định trong BLHS năm 2015 vì thực chất hành vi gieo trồng cây giống các loại cây có chứa chất ma túy đã là dấu hiệu cấu thành tội trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy. Mặt khác, trong thực tiễn hầu như các Tòa án không xét xử về tội phạm này.

Ba là: Pháp điển hóa các hướng dẫn tại tiểu mục 3.6 điểm 3 Thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007 của BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP về trọng lượng chất ma túy bị xử lý hình sự đối với các hành vi tàng trữ, vận chuyển, chiếm đoạt chất ma túy không nhằm mục đích mua bán.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 249 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định:

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cây cô ca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành hoa quả cây cần sa hoặc lá cây cô ca có khối lượng từ 10 kilogam đến dưới 25 kilogam.

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilogam đến dưới 50 kilogam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilogam đến dưới 10  kilogam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililit đến dưới 100 mililit;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

Các tội vận chuyển trái phép chất ma túy, chiếm đoạt chất ma túy cũng quy định tại của khoản 1 Điều 249 nêu trên.

Bốn là: Hình phạt tử hình được quy định trong 03 tội: Tội sản xuất trái phép chất ma túy ( Điều 248), Tội vận chuyển trái phép chất ma túy ( Điều 250), Tội mua bán trái phép chất ma túy ( Điều 251).

Năm là: Mức hình phạt quy định trong cấu thành cơ bản của một số tội được tách ra từ tội ghép được quy định nhẹ hơn so với tội ghép trước đây.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 249 tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm ( thay vì từ 02 năm đến 07 năm) và mức hình phạt  tại khoản 2 Điều này cũng chỉ quy định từ 05 năm đến 10 năm tù ( thay vì từ 07 năm đến 15 năm).

Sáu là: bổ sung 03 chất ma túy tổng hợp mới là Methamphetamine, Amphetamine và MDMA. Đây là các chất ma túy tổng hợp có tính gây nghiện và tác hại rất lớn như heroin, cocain nhưng chưa được quy định cụ thể trong điều luật nên chỉ bị xử lý như các trường hợp vi phạm đối với các chất ma túy ở thể rắn (có định lượng cao hơn heroin, cocain).

Một số vấn đề chú ý khi xét xử các tội phạm về ma túy

- Việc xử lý các tội phạm về ma túy đã được liên ngành tư pháp trung ương hướng dẫn tại thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007. Trong quá trình xử lý loại tội phạm này có này sinh vướng mắc khi thông tư liên tịch hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 Điểm 1 là:

“1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy…”

Giám định chất ma túy là quy định bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện ( điểm đ khoản 3 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) và quy định này vẫn được kế thừa tại khoản 5 Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, do có khó khăn về giám định chất ma túy nên rất nhiều các vụ án về ma túy không được cơ quan điều tra, cơ quan truy tố giám định hàm lượng chất ma túy có trong khối lượng chất đã thu giữ nghi là chất ma túy. Các Tòa án thụ lý các vụ án này buộc phải trưng cầu giám định để có căn cứ giải quyết. Trong trường hợp hàm lượng chất ma túy thấp hơn 0,1gam đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, vận chuyển trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì có Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát, có Tòa án đưa ra xử và miễn hình phạt. Có Tòa án sau khi thụ lý, mà hồ sơ vụ án không có giám định hàm lượng chất ma túy, đã căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư liên tịch 17/2007, Thông tư liên tịch số 01/2010 và trả hồ sơ để điều tra bổ sung và Công văn số 234/TANDTC-HS ngày 17/9/2014 của TANDTC để trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung.

Các vướng mắc này đã dẫn đến tình trạng rất nhiều các vụ án về ma túy không được giải quyết kịp thời và rất nhiều bị can, bị cáo đã bị giam không có thời hạn, gây bức xúc trong xã hội. Mặt khác cũng dẫn đến việc giải quyết không thống nhất giữa các Tòa án và không thống nhất quan điểm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Một số cơ quan không đồng tình với Công văn số 324/TANDTC của TANDTC).

Để giải quyết các vướng mắc này Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, TANDTC, Bộ tư pháp đã ban hành thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT ngày 14/11/2015 “Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định củ Chương XVIII “ Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 (viết tắt là Thông tư liên tịch 08/2015).

- Khoản 1 Điều 1: Sửa đổi, bổ sung điểm a tiết 1.1 mục 1 Phần I như sau:

“a) Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng thì không coi toàn bộ dung dịch pha loãng này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng chất ma túy trong dung dịch để tính trọng lượng chất ma túy đó.

Ví dụ: Thuốc phiện, hêrôin được hòa thành dung dịch thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng Moocphin cùng với các thành phần khác của thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện hoặc xác định hàm lượng Moocphin cùng các thành phần khác của hêrôin để tính trọng lượng hêrôin”.

Ví dụ này thực ra cũng không khác hướng dẫn và nếu đưa ra ví dụ cụ thể có lẽ tốt hơn. Hướng dẫn và ví dụ này tuy có sửa đổi nhưng về tinh thần thì không khác hướng dẫn tại điểm a.tiết 1.1 mục 1 phần I Thông tư liên tịch số 17/2007, đó là: không coi toàn bộ dung dịch được tạo thành từ chất ma túy ở thể rắn hoặc ở thể lỏng được pha loãng là chất ma túy mà phải giám định để xác định hàm lượng chất ma túy trong các dung dịch đó và đó là căn cứ để xác định trọng lượng chất ma túy.

Ví dụ: Khi thu giữ được 100 mililít dung dịch nghi có chứa chất ma túy thì phải giám định xem hàm lượng chất ma túy đố là bao nhiêu trong 100 mi li lít dung dịch chất ma túy đó là gì ( thuốc phiện, moocphin, hê rô in) và các chất khác trong dung dịch. Nếu xác định trọng lượng của các chất ma túy này dưới mức thấp nhất của cấu thành tội phạm thì không phải là tội phạm (trừ các trường hợp tội danh không quy định dấu hiệu này, chẳng hạn tội mua bán trái phép chất ma túy, chứa chấp  việc sử dụng trái phép chất ma túy, cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy…)

BLHS năm 2015 không sử dụng thuật ngữ “trọng lượng” mà thay bằng “khối lượng”. Vì vậy chúng ta phải hiểu là khối lượng chất ma túy cũng chính là trọng lượng chất ma túy được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 17/2007 và Thông tư liên tịch 08/2015.

- Khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08/2015 sửa đổi, bổ sung tiết 1.4 mục 1 Phần I như sau:

“1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:

a) Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;

b) Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã pha loãng;

c) Xái thuốc phiện;

d) Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.

Ngoài ra các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật…”

Theo hướng dẫn này thì các chất ma túy ở thể rắn thì chỉ cần giám định để xác định loại và trọng lượng (khối lượng) mà không cần phải giám định hàm lượng của chất ma túy đó là bao nhiêu.

Ví dụ: Thu giữ được 04 bánh Hêrôin thì chỉ cần giám định đó là hêrôin, có khối lượng là 1,4kg mà không cần giám định thực chất trong 1,4kg hêrôin đó có bao nhiêu khối lượng hê rô in thật. Điều này cũng có nghĩa là bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ khối lượng chất ma túy đã bị bắt giữ, bất kỳ hàm lượng chất ma túy có trong khối lượng đó là bao nhiêu.

Chúng tôi cho rằng, hướng dẫn này có thể gây ra sự bất bình đẳng trong xử lý tội phạm khi không xác định hàm lượng của ma túy ở thể rắn. Khối lượng 0,1kg chất ma túy ở thể rắn mà hàm lượng thực chất chỉ có 90 gam heroin hoặc Moocphin khác hoàn toàn với 01kg chất ma túy  ở thể rắn mà hàm lượng thực chất là 500 gam. Nếu chỉ căn cứ vào loại ma túy và trọng lượng ma túy ở thể rắn thì cả hai trường hợp này đều bị xét xử như nhau và người sản xuất, mua bán, vận chuyển trái phép 01 kg chất ma túy có hàm lượng thực là 90 gam (heroin, Moocphin) trong khối lượng 01 kg đó có thể bị xử phạt tử hình vì phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cả các thành phần khác không phải là chất ma túy.

Tương tự như trên, người tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy ở thể rắn cũng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cả những thành phần  không phải là ma túy trong khối lượng bị thu giữ.

Khoản 5 Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định bắt buộc phải giám định chất ma túy. Khi giám định chất ma túy thì không thể chỉ giám định loại ma túy, khối lượng ma túy mà còn phải giám định cả hàm lượng của chất ma túy đó. Tại sao chất ma túy ở thể rắn hoặc  thể lỏng được hòa thành dung dịch thì được tính hàm lượng trong dung dịch đó ( không tính toàn bộ khối lượng, thể tích) mà chất ma túy ở thể rắn lại bị tính toàn bộ cả những chất không phải là ma túy? Có phải là do việc giám định hàm lượng chất ma túy ở thể rắn khó khăn, phức tạp hoặc khoa học kỹ thuật hình sự chưa thực hiện được hết hoặc chưa có khả năng thực hiện hết các yêu cầu giám định không?.

Chúng tôi được biết là khoa học kỹ thuật hình sự có đầy đủ khả năng giám định hàm lượng chất ma túy, nhưng không phải là ở tất cả các tỉnh mà tập trung ở Bộ Công an. Đây là khó khăn của cơ quan điều tra, nhưng không thể vì như vậy mà vi phạm quy định của pháp luật hoặc có hướng dẫn không phù hợp quy định của Luật. Việc Thông tư liên tịch số 08/2015 hướng dẫn Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định đối với chất ma túy ở thể rắn, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết để đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật phải chăng là việc “ đưa quả bóng sang sân Tòa án”.?

Chúng tôi cho rằng hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17/2007 và hướng dẫn tại Công văn số 324 của TANDTC là hoàn toàn đúng quy định của Chương các tội phạm về ma túy của BLHS năm 1999 và cũng đúng với quy định của Chương các tội phạm về ma túy của BLHS năm 2015. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cần xem xét lại các sửa đổi bổ sung tại Thông tư liên tịch số 08/2015 đã nêu trên.

9. Chương XXI: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng

Chương XXI là một Chương lớn nhất của BLHS năm 2015. Chương này được  thiết kế thành 04 Mục với 70 Điều luật.

Mục 1: Các tội xâm phạm an toàn giao thông, từ Điều 260 đến Điều 284 gồm 25 điều.

Mục 2: Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, từ Điều 285 đến Điều 294 gồm 10 Điều.

Mục 3: Các tội phạm khác xâm phạm an toàn công cộng, từ Điều 295 đến Điều 317 gồm 23 điều.

Mục 4: Các tội xâm phạm trật tự công cộng, từ Điều 318 đến Điều 329 gồm 12 điều.

Chúng tôi xin không trình bày từng điều luật cụ thể của Chương này mà chỉ trình bày một số sửa đổi, bổ sung lớn trong từng Mục của Chương.

Mục 1: Các tội xâm phạm an toàn giao thông

Một là: Sửa tội danh “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999 thành “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” (Điều 260).

Việc sửa tội danh này là nhằm mở rộng phạm vi xử lý các hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, không chỉ là hành vi vi phạm của người điều khiển phương tiện giao thông mà cả người đi bộ.

Hai là: Bổ sung vào cấu thành cơ bản của “Tội cản trở giao thông đường bộ” (Điều 261) để quy định rõ hơn dấu hiệu “hành vi khác gây cản trở giao thông đường bộ”. Đó là các dấu hiệu: đặt, để trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, đổ chất gây trơn, vật sắc  nhọn, vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ. Các dấu hiệu khác của tội phạm này vẫn được kế thừa quy định của Điều 202 BLHS năm 1999.

Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, hành vi đặt, rải vật sắc nhọn trên đường giao thông đã được xây dựng thành tội phạm riêng vì ý thức chủ quan của người có hành vi đặt, rải vật sắc nhọn trên đường giao thông không nhằm cản trở giao thông mà nhằm kiếm lợi từ việc sửa chữa phương tiện giao thông bị hỏng (thủng lốp). Việc phương tiện giao thông bị thủng lốp khi đè phải vật sắc nhọn được rải trên đường có thể cũng gây ra ùn tắc giao thông, nhưng người phạm tội không ý thức sâu xa về điều đó. Tuy nhiên, dự kiến tội phạm hóa hành vi này không được chấp nhận. Với lập luận trên, chúng tôi cho rằng đưa dấu hiệu đặt, rải vật sắc nhọn trên đường giao thông đường bộ vào dấu hiệu để định tội cản trở giao thông đường bộ có thể là khiên cưỡng, không thật phù hợp với ý thức chủ quan.

Hai là: Hầu hết các điều luật trong mục này được thiết kế lại theo hướng đưa các dấu hiệu định tội vào cấu thành cơ bản và quy định cụ thể về tình tiết định tội “gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác”.

Ví dụ: Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 264).

“1. Người chủ sở hữu, quản lý phượng tiện tham gia giao thông đường bộ mà giao cho người không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cần vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn tại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Ba là: Các tình tiết mang tính chất định tính trong cấu thành tăng nặng như hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại nghiêm trọng tính mạng, sức khỏe, tài sản, gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tài sản rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc quy mô lớn trong các tội phạm cụ thể được quy định cụ thể trong các tội phạm này trên tinh thần hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXI của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông. Nói cách khác BLHS năm 2015 đã pháp điển hóa các hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 09/2013, tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng vào thực tiễn đấu tranh chống tội phạm trong lĩnh vực này.

Bốn là: Các Điều 205, Điều 211, Điều 215, Điều 219 BLHS năm 1999 là các điều luật ghép quy định hai tội “điều động” và “giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. BLHS năm 2015 đã được tách riêng các tội này thành các tội phạm riêng, quy định trong một điều luật cụ thể.

Ví dụ: Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 211 BLHS năm 1999) được tách thành 02 tội là:

- Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 270).

- Tội giao cho người không đủ điều  kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 271).

Nhìn chung, hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông được xác định tính nguy hiểm thấp hơn so với hành vi điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông nên hình phạt đối với hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đều nhẹ hơn. Có tội đã bỏ hình phạt tù trong cấu thành cơ bản (Điều 264).

Năm là: Nhìn chung, chính sách hình sự đối với các tội phạm trong Mục này về cơ bản không có thay đổi lớn đối với hình phạt tù, nhưng có một số tội phạm đã được bỏ hình phạt tù trong cấu thành cơ bản (khoản 1 Điều 264, khoản 1 Điều 281, khoản 1 Điều 284). Hình phạt tiền là hình phạt chính được nâng lên tại các quy định của cấu thành cơ bản.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 260 quy định “…phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (thay vì từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng); khoản 1 Điều 267 quy định “…phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (thay vì từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Sáu là: Khoản 4 của các Điều 260, 261, 262, 263, 264, 268, 269, 270, 271, 273, 274, 275, 276, 278 và  khoản 5 của các Điều 267, 272, 280, 283 của Bộ luật này là những quy định “đặc biệt” bởi các quy định này cũng chứa đựng các dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng mức độ nghiêm trọng hoặc hậu quả của tội phạm thấp hơn cấu thành cơ bản, mức hình phạt của các khoản này là mức hình phạt nhẹ nhất của các điều luật. Thiết kế điều luật “đặc biệt” này theo chúng tôi là không hợp lý bởi:

Một là: không phù hợp với thiết kế chung của hầu hết các tội phạm trong BLHS.

Hai là: không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật này.

“Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

Như vậy, Tòa án không thể áp dụng khung hình phạt liền kề nhẹ hơn được vì khung nhẹ nhất quy định ở khoản 4 hoặc khoản 5 của các điều luật nêu trên không liền kề. Quy định này chỉ phù hợp với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này khi Tòa án có thể áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn. Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, chúng tôi đã có ý kiến không đồng tình với thiết kế này. Rất tiếc là không được chấp nhận và có lẽ Quốc hội hoặc TANDTC sẽ phải có hướng dẫn áp dụng đối với các quy định “đặc biệt” này.

Bảy là: Các quy định phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác quy định tại khoản 5 Điều 261, khoản 5 Điều 268, khoản 5 Điều 278 là các quy định không phù hợp thực tiễn và không có tính khả thi cao. Những trường hợp này chỉ có thể xử lý bằng hình sự khi mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như làm chết nhiều người, gây thương tích cho nhiều người, thiệt hại tài sản…phải tương xứng với khung hình phạt nặng nhất của loại tội này.

Mục 2: Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

Một là: Bổ sung 05 tội danh mới là các tội

- Điều 285. Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật.

- Điều 291. Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng.

- Điều 293. Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông.

- Điều 294. Tội cố ý gây nhiễu có hại.

Hai là: Sửa tên tội danh của Điều 224 BLHS năm 1999 thành “tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 286); sửa tên tội danh của Điều 225 BLHS năm 1999 thành “Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông”; sửa tên tội danh của Điều 226 a BLHS năm 1999 thành “tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289); sửa tên tội danh của Điều 226 b BLHS năm 1999 thành “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” (Điều 290).

Việc sửa đổi tên tội danh nhằm bảo đảm chính xác về thuật ngữ của công nghệ thông tin và mở rộng phạm vi xử lý đối với hành vi phạm tội. Chẳng hạn việc mở rộng phạm vi khi xâm hại phương tiện điện tử.

Ba là: Các quy định có tính chất định tính như hậu quả, thu lợi bất chính trong cấu thành cơ bản hoặc cấu thành tăng nặng được lượng hóa cụ thể trong các điều luật. Ví dụ: khoản 1 Điều 288 quy định: “1 người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng…”

Khoản 2 Điều này quy định “b, thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên” hoặc điểm c khoản 2 Điều 289 quy định cụ thể thu lợi bất chính lớn là:

“c) Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. Điểm c khoản 3 Điều này quy định cụ thể thu lợi bất chính rất lớn, đặc biệt lớn là:

“c) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên”.

Bốn là: Trong cấu thành cơ bản của một số tội  không quy định hậu quả thiệt hại, tức là không cần cấu thành vật chất nhằm đấu tranh kiên quyết và có hậu quả hơn đối với các tội phạm nguy hiểm trong lĩnh vực này.

Ví dụ: khoản 1 Điều 285, khoản 1 Điều 288, khoản 1 Điều 289, khoản 1 Điều 290, khoản 1 Điều 291 của Bộ luật này.

Theo chúng tôi, việc sửa đổi, bổ sung các nội dung trên trong Mục 2 là hết sức cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm rất nguy hiểm ngày càng tinh vi, xảo quyệt và ngày càng gia tăng này.

Mục 3. Các tội phạm khác xâm phạm an toàn công cộng

Mục 3. Có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là:

- Bổ sung một số tội danh mới trên tinh thần nội luật hóa Công ước chống bắt cóc con  tin năm 1979 và Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982. Đó là:

+ Tội bắt cóc con tin (Điều 301)

+ Tội cướp biển (Điều 302)

- Bổ sung tội cưỡng bức lao động (Điều 297).

Hai là: Bổ sung một số đối tượng xử lý hình sự, mở rộng phạm vi xử lý hình sự để giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.

Ví dụ: Bổ sung hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thể thao và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự trong tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự (Điều 306).

Hoặc bổ sung từ “cơ sở” trong tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303).

Ba là: Cụ thể hóa các tình  tiết thiệt hại nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, vật phạm pháp có số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn trong tất cả các cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng của tất cả các tội phạm quy định trong Mục này  kể cả tội phạm mới quy định).

Bốn là: Bỏ hình phạt tử hình đối với tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303)

Năm là: Nhìn chung các mức hình phạt trong cấu thành cơ bản kể cả hình phạt tiền và hình phạt tù, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền trong các tội phạm đều được nâng lên.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 298. Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng quy định hình phạt tiền “từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng (thay vì từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng); hình phạt tù được quy định “Từ 01 năm đến 05 năm” (thay vì từ 06 tháng đến 05 năm); hình phạt bổ sung được quy định “phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (thay vì từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng).

Sáu là: Bổ sung thêm một số tình tiết định khung tăng nặng ở một số điều luật.

Ví dụ: Khoản 2 Điều 299 Tội khủng bố được bổ sung các tình tiết:

“a) Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố;

b) Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố;

c) Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Bảy là: Bổ sung khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm  tội của một số tội phạm cụ  thể trong mục này.

Tám là: Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, một số đại biểu Quốc hội đề nghị cần phải tăng mức hình phạt nghiêm khắc hơn đối với Tội vi phạm quy định về vệ sinh, an toàn thực phẩm và cần coi hành vi sử dụng chất cực độc, chất để lại hậu quả di truyền trong sản xuất, chế biến thực phẩm là tội phạm, không cần có hậu qủa xảy ra hoặc cũng cần căn cứ vào hàm lượng chất cấm được sử dụng quá mức (ngưỡng cho phép) để xác định các khung hình phạt  tương xứng.

Chúng tôi rất trân trọng các ý kiến này và cho rằng đó là các ý kiến xác đáng. Tuy  nhiên, mức độ gây hậu qủa của các chất cấm khác nhau, mức độ vượt quá ngưỡng để gây hậu quả cũng khác nhau, không thể quy định một chuẩn mực chung cho tất cả các chất cấm sử dụng được. Mặt khác, chất cực độc, chất để lại hậu quả di truyền cũng khó xác định. Do vậy, điều luật này quy định theo hướng cứ sử dụng chất cấm hoặc sử dụng vượt ngưỡng cho phép trong sản phẩm mà gây hậu quả tổn hại sức khỏe của con người 60%, của 02 người mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng là cấu thành tội phạm này.

Các hành vi sử dụng chất cấm trong sản xuất, chế biến thực phẩm gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng được quy định cụ thể trong các khung hình phạt tăng nặng.

Tội phạm này được thiết kế thành 4 khung hình phạt và mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 3 là 15 năm tù và mức hình phạt cao nhất ở khoản 4 là 20 năm tù. So với Điều 244 BLHS năm 1999, thì hình phạt của tội phạm này được nâng lên đến 20 năm tù ( thay vì cao nhất là 15 năm tù).

Mục 4 Các tội phạm khác xâm phạm trật tự công cộng

Về cơ bản, Mục 4 vẫn kế thừa quy định của BLHS năm 1999 đối với 12 tội danh, không bổ sung thêm tội danh mới. Tuy nhiên, hầu hết các tội danh trong mục này đều được sửa đổi, bổ sung cả về kỹ thuật lập pháp và chính sách hình sự.

Một là: Các quy định có tính chất định tính về hậu quả, số lượng, quy mô lớn, giá trị lớn hơn quy định cụ thể trong cấu thành cơ bản và trong cấu thành tăng nặng.

- Ví dụ 1: Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đã cụ thể hóa tình tiết “quy mô lớn trong cấu thành cơ bản ( tình tiết định tội):

Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.

“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần có giá trị 20.000.000 đồng trở lên;

c) Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; phân công người canh gác, người phục vụ, sắp đặt lối thoát khi bị vây, sử dụng phương tiện trợ giúp cho việc đánh bạc;

d) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

Như vậy, các tình tiết là dấu hiệu định tội của tội phạm này được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, thuận tiện cho việc áp dụng.

- Ví dụ 2: Các tình tiết định tội, định khung tăng nặng về số lượng lớn, số lượng rất lớn, số lượng đặc biệt lớn trong tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy ( Điều 326) được quy định cụ thể:

Khoản 1: Số lượng lớn là:

“a) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 01 gigabyte (GB) đến dưới 05 gigabyte (GB);

b) Sách in, báo in có số lượng từ 50 đơn vị đến 100 đơn vị;

c) Ảnh bản giấy có số lượng từ 100 ảnh đến 200 ảnh;”

Khoản 2: Số lượng rất lớn là:

b) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 05 gigabyte (GB) đến dưới 10 gigabyte (GB);

c) Sách in, báo in có số lượng từ 51 đơn vị đến 100 đơn vị;

d) Ảnh bản giấy có số lượng từ 201 ảnh đến 500 ảnh;”

Khoản 3: Số lượng đặc biệt lớn là:

“a) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 10 gigabyte (GB) trở lên;

b) Sách in, báo in có số lượng từ 101 đơn vị trở lên;

c) Ảnh bản giáy có số lượng từ 501 ảnh trở lên”.

Hai là: Các mức hình phạt trong cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng được điều chỉnh theo hướng tăng nặng hơn cả về hình phạt tiền và hình phạt tù trong hầu hết các tội phạm quy định trong mục này.

Ví dụ: Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323). Mức phạt tiền “từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (thay vì từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng); mức phạt tù quy định ở khoản 2 Điều này từ 03 năm đến 07 năm (thay vì từ 02 năm đến 07 năm).

Ba là: Điều chỉnh chính sách hình sự theo hướng giảm nhẹ, thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với tội đánh bạc (Điều 321).

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Chú ý: Khoản 1 Điều này thu hẹp phạm vi xử lý hình sự trong trường hợp đánh bạc với số tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, nhưng bỏ hình phạt tiền và nâng mức hình phạt khởi điểm từ 06 tháng đến 3 năm (thay vì từ 03 tháng đến 03 năm), tức là xử lý nghiêm khắc hơn đối với người phạm tội. Tuy nhiên, đây là tội được quy định thu hẹp phạm vi xử lý (phi hình sự) đối với trường hợp đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên thuộc trường hợp có lợi cho người phạm tội và được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 07 năm 2016.

Bốn là: Đối với tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp (Điều 325) và tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329) được quy định rõ “Người nào đủ 18 tuổi trở lên…” Có nghĩa là chủ thể của hai tội này là người đã thành niên, người dưới 18 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về hai tội này.

- Chú ý: Đối với tội mua dâm người dưới 18 tuổi, điều luật quy định “1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mua dâm với người dưới 18 tuổi trừ trường hợp quy định tại điểm b, khoản 1  Điều 142 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Điểm b khoản 1 Điều 142 quy định “b. giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Như vậy, nếu mua dâm với người dưới 13 tuổi thì không phạm tội này mà phạm tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS).

 

Nguyễn Quang Lộc - Thành viên Tổ chuyên gia xây dựng BLHS năm 2015

Văn bản mới

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.39363528 - Fax : 04.39393335.
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao