Một số sửa đổi bổ sung cơ bản của Bộ luật hình sự năm 2015 (Phần VII)

10

10. Chương XXII: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

Chương XXII gòm 22 điều luật, từ Điều 330 đến Điều 351. So với Chương này của BLHS năm 1999 thì có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Bỏ tội không chấp hành các quy định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính. Tội danh này được bãi bỏ vì theo quy định của Luật xử phạt hành chính thì việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính này thuộc thẩm quyền của Tòa án. Việc chấp hành các quyết định này của Tòa án là thi hành án. Mặt khác BLHS năm 2015 có một Chương quy định về việc miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục và biện pháp tư pháp với họ.

Hai là: Bổ sung thêm 02 tội phạm mới là:

- Điều 336. Tội đăng ký hộ tịch trái pháp luật

- Điều 348. Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép.

Ba là: Tách tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

- Điều 349. Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

- Điều 350. Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

Bốn là: Sửa tên của một số tội danh

- Sửa tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, tội ở lại Việt Nam trái phép ( Điều 274 BLHS năm 1999 thành “Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép ( Điều 347).

- Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc ( Điều 265 BLHS năm 1999) được sửa thành tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác ( Điều 339).

Nói chính xác thì điều luật này bổ sung thêm một hành vi phạm tội mới, được phép trong cùng điều luật này. Do đó, đây là tội ghép của 03 tội: Tội giả mạo cấp bậc, tội giả mạo chức vụ và Tội giả mạo vị trí công tác.

- Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép được tách ra từ Điều 275 BLHS năm 1999 và bổ sung thêm hành vi môi giới. Tức là điều luật này cũng là tội ghép của 05 tội là:

+ Tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép.

+ Tội tổ chức cho người khác trốn ở lại nước ngoài trái phép.

+ Tội môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép.

+ Tội môi giới cho người khác trốn ở lại nước ngoài trái phép.

Do vậy, khi xét xử, tùy theo hành vi phạm tội, Thẩm phán phải tuyên đúng tội danh, không được tuyên toàn bộ điều luật này. Giả sử một người vừa có hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép, vừa có hành vi môi giới cho người khác trốn ở nước ngoài trái phép thì phải quyết định hình phạt đối với từng hành vi phạm tội, tuyên án đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này ( Điều 348 tương tự như điều này).

Năm là: Các tình tiết có tính chất định tính chất định tính về hậu quả của tội phạm đều đã được cụ thể hóa trong tất cả cấu thành của các tội phạm trong Chương này. Ngoài ra, các tội phạm mới quy định hoặc các tội phạm được sửa đổi, bổ sung cũng theo hướng quy định rõ các tình tiết có tính định tính như số lượng cụ thể trong tội vi phạm các quy định về hoạt động xuất bản ( Điều 344) hoặc thu lợi bất chính trong tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 342); tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (Điều 348).

Chú ý: - Khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có thể người phạm tội, giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác hoặc có thể có hành vi làm giả giấy tờ, tài liệu. Ví dụ làm giả thẻ Thẩm phán (bóc ảnh thật, thay ảnh của mình vào thẻ)…thì đó là các thủ đoạn gian đối để thực hiện tội phạm. Trường hợp này không xử lý thêm tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác hoặc tội làm giả hoặc sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan tổ chức. Hoặc trường hợp sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch… để thực hiện hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, trốn ở lại nước ngoài; xuất nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép cũng không xét xử thành hai tội vì bản thân các hành vi làm giả các loại giấy tờ đó đã là dấu hiệu trái phép của các tội danh này. Nói cách khác việc làm giả các loại giấy tờ đó là điều kiện, là tiền đề để đạt được mục đích của tội phạm là tổ chức trốn đi nước ngoài, trốn ở lại nước ngoài… cho bản thân người đó hoặc cho người khác.

Đây là vấn đề còn có những quan điểm khác nhau và cần có hướng dẫn áp dụng thống nhất của TANDTC.

- Điều 337. Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật  nhà nước.

Đây là điều luật quy định ghép của 04 tội là:

+ Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước.

+ Tội chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước.

+ Tội mua bán tài liệu bí mật nhà nước.

+ Tội tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước.

Có thể do lỗi kỹ thuật nên Điều luật này có một số sai sót sau:

Một là: Trong cấu thành cơ bản đã bỏ sót hành vi chiếm đoạt và tiêu hủy.

“1. Người nào cố ý làm lộ hoặc mua bán bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm” đúng ra, khoản 1 Điều này phải quy định là:

“1. Người nào cố ý làm lộ hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 của Bộ luật này thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hai là: Bí mật nhà nước không chỉ có tài liệu mà còn có thể là vật hoặc các thông tin khác, vì thế Điều 338. Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước. Vô ý làm mất vật mang bí mật nhà nước được coi là tội phạm, thì cố ý làm lộ, chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy vật mang bí mật nhà nước không thể không là tội phạm.

Chúng tôi cho rằng cần phải có đính chính hoặc giải thích của Quốc hội về Điều luật này.

11. Chương XXII: Các tội phạm về chức vụ

Chương XXII Các tội phạm về chức vụ bao gồm 15 điều, từ Điều 352 đến Điều 366. Ngoài 01 điều quy định về khái niệm tội phạm chức vụ, Chương này được thiết kế thành 02 Mục.

- Mục 1 các tội phạm về tham nhũng gồm 07 điều, từ Điề 352 đến Điều 359.

- Mục 2 các tội phạm khác về chức vụ gồm 07 điều, từ Điều 360 đến Điều 366. Việt Nam là thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng (UNCAC), yêu cầu nội luật hóa quy định của Công ước này là bắt buộc đối với các quốc gia t hành viên nhằm “ a) Thúc đẩy và tăng cường các biện pháp phòng và chống tham nhũng một cách hữu hiệu và hiệu quả hơn; b) thúc đẩy, tạo điều kiện và hỗ trợ hợp tác quốc tế và trợ giúp kỹ thuật trong việc phòng và chống tham nhũng, kể cả việc thu hồi tài sản” ( Điều 1 Công ước chống tham nhũng). Do vậy, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các điều luật trong chương  này, đặc biệt là Mục 1 các tội phạm về tham nhũng là một trong những định hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự. Theo định hướng này, BLHS năm 2015 đã có một số sửa đổi, bổ sung Chương XXIII, cụ thể như sau:

1. Mục 1: Các tội phạm về tham nhũng

Một là: Mở rộng phạm vi xử lý hành vi tham nhũng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức  ngoài Nhà nước mà thực hiện hành vi tham ô tài sản hoặc nhận hối lộ, môi giới hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế. Tức là phạm vi xử lý đối với các tội phạm này được mở rộng ra cả khu vực tư, lĩnh vực tư. Nếu như trước đây, một người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực tư  mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản thì không phải chủ thể của các tội phạm về tham nhũng, tùy theo hành vi phạm tội, họ chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản…, thì theo quy định mới của chương này, các hành vi chiếm đoạt đó được coi là tham ô tài sản.

Quy định này được thể hiện tại khoản 6 Điều 353 Tội tham ô tài sản; khoản 6 Điều 354 Tội nhận hối lộ; khoản 7 Điều 365 Tội môi giới hối lộ.

Ví dụ khoản 6 Điều 353 quy định:

“6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước  mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định của Điều này”. Hoặc khoản 7 Điều 365 quy định:

“7. Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.”

Đây là quy định mới nhằm nội luật hóa Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng đồng thời cũng góp phần tăng cường đấu tranh phòng, chống các tội phạm về tham nhũng kiên quyết và có hiệu quả hơn.

Hai là: Điều 353. Tội tham ô tài sản có một số sửa đổi như sau:

- Khoản 1: nâng mức tiền tham ô từ 2.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (thay vì từ 2.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; bỏ dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” trong cấu thành cơ bản.

Như vậy, điều luật đã phi hình sự đối với các hành vi tham ô từ trên 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (trước đây bị xử phạt theo khoản 2). Có nghĩa là quy định mới ở khoản 1 là quy định nhẹ hơn.

Trong quá trình xây dựng điều luật này, đã có dự thảo đưa hình phạt tiền vào khoản 1 để áp dụng cho những trường hợp tham ô số tiền không lớn. Chúng tôi cho rằng ý kiến đó là phù hợp, tuy nhiên cũng có thể dẫn tới cảm nhận là luật sẽ quá “nương tay” với hành vi tham nhũng. Do đó, hình phạt tiền không được quy định là hình phạt chính trong các tội phạm về tham nhũng.

- Khoản 2. Từ việc nâng mức tiền tham ô của khoản 1 lên 100.000.000 đồng nên khoản 2 cũng phải nâng mức tiền tham ô từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Hậu quả nghiêm trọng của tội tham ô được quy định rõ là:

“đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo, tiền phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;

e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;

g) Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức”.

- Khoản 3. Nâng mức chiếm đoạt tài sản lên từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

Hậu quả rất nghiêm trọng được quy định rõ là:

“b. Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động”.

- Khoản 4. Mức tiền hoặc tài sản bị chiếm đoạt nâng lên từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được quy định là:

“b. Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.

- Khoản 5. Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cũng được nâng lên từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (thay vì từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng).

Ba là: Tội nhận hối lộ (Điều 354) cũng có một số sửa đổi, bổ sung sau:

- Sửa cấu thành cơ bản của điều luật này:

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất”.

Như vậy, dấu hiệu của tội nhận hối lộ được mở rộng ở:

+ Hành vi nhận tiền, tài sản có thể cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác. Trước đây, chúng ta chỉ quan niệm việc nhận hối lộ là nhận cho bản thân người nhận. Quy định mới này mở rộng phạm vi xử lý đối với cả trường hợp dù không nhận cho mình mà nhận hối lộ cho người khác, tổ chức khác (có thể là tổ chức thuộc Nhà nước hoặc ngoài Nhà nước).

+ Lợi ích phi vật chất là quy định mới, thể hiện rõ hơn quy định “bất kỳ lợi ích nào”. Lợi ích phi vật chất thường được thể hiện như hối lộ về tình dục, việc hứa nâng lương, đề bạt, thuyên chuyển vị trí công tác… mà không nhận lợi ích vật chất.

- Sửa trị giá tiền, tài sản nhận hối lộ ở khoản 1 lên 100.000.000 đồng (thay vì từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng). Việc nâng trị giá tiền, tài sản nhận sẽ nhận hối lộ ở khoản 1 Điều này dẫn tới việc nâng trị giá tiền, tài sản nhận sẽ nhận hối lộ ở khoản 2 từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; khoản 3 từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng và khoản 4 từ 1.000.000.000 trở lên.

- Bỏ tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở khoản 1, hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được quy định cụ thể ở điểm d khoản 2 “gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng”, điểm b khoản 3 “gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng”, và điểm b khoản 4 “gây thiệt hại về tài sản từ 5.000.000.000 đồng trở lên”.

- Khoản 5. Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung được sửa từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, thay cho quy định phạt 01 lần đến 05 lần giá trị của  hối lộ.

Như vậy, mặc dù các chế tài hình phạt đối với tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ không có thay đổi trong các khung hình phạt. Hình phạt cao nhất của hai tội phạm này vẫn giữ nguyên hình phạt tử hình, nhưng việc nâng trị giá tiền, tài sản bị chiếm đoạt trong các cấu thành tội phạm của cả hai tội này chính là việc ghi hình sự của các khung tăng nặng, đồng thời cũng là quy định để giảm bớt quy định và áp dụng hình phạt tử hình.

Ví dụ: Theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 278 BLHS năm 1999 và điểm a khoản 4 Điều 279 BLHS năm 1999, thì người tham ô tài sản có giá trị từ 500.000.0000 đồng trở lên hoặc người nhận hối lộ có giá trị từ 300.000.000 đồng trở lên đã có thể bị áp dụng hình phạt tử hình. Theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 và điểm a khoản 4 Điều 354 BLHS năm 2015, thì người tham ô tài sản hoặc nhận hối lộ chỉ có thể bị tử hình nếu tham ô hoặc nhận hối lộ mà tài sản có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

Bốn là: Điều 355. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

- Khoản 1: Nâng giá trị tiền chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (thay vì từ 2.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng).

- Trị giá tài sản chiếm đoạt được nâng lên ở khoản 2 “từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” khoản 3 “từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng” và khoản 4 là từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

- Các tình tiết có tính chất định tính về hậu quả nghiêm trọng được quy định cụ thể tại điểm e khoản 2; hậu quả rất nghiêm trọng được quy định cụ thể ở các điểm b, c, d khoản 3 và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại điểm b khoản 4 của Điều này.

- Sửa quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng thành “ từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

Năm là:  Điều 356 . Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

- Khoản 1: tình tiết “gây thiệt hại” được quy định rõ là “gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 01 năm đến 05 năm.

- Hậu quả nghiêm trọng được quy định cụ thể tại khoản 2 là “c). gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng  đến dưới 1.000.000.000 đồng”; hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được quy định cụ thể tại khoản 3 là:

“3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm”.

- Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung được nâng lên từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (thay vì từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng).

Sáu là: Điều 357. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

- Khoản 1: Tình tiết gây thiệt hại được quy định rõ là “gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng).

- Hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 2 là “từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”; hậu quả rất nghiêm trọng gây thiệt hại về tài sản là từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng” và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên (khoản 3 và khoản 4 Điều này).

- Nâng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung lên từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (thay vì từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng)

Bảy là: Điều 358. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi.

- Khoản 1 của điều luật này được thiết kế lại theo hướng chỉ rõ, quy định cụ thể hơn về cấu thành tội phạm.

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đòi, nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây dưới mọi hình thức để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

Dấu hiệu định tội của cấu  thành cơ bản đã bổ sung hành vi “đòi” bất kỳ lợi ích nào, dưới mọi hình thức. Lợi ích vật chất có thể là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng. Tức là cấu thành cơ bản đã nâng mức tiền lên tới 100.000.000 đồng (thay vì từ 2.000.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng). Lợi ích phi vật chất là các lợi ích không phải là vật chất (như đã nêu tại Điều 354 Tội nhận hối lộ).

- Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 2 là “gây thiệt hại về tài sản  từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng; hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản 3 là “gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng trở lên.

- Trị giá tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác được quy định theo hướng nâng lên ở các khung tăng nặng. Khoản 2 “từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”; khoản 3 “từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; khoản 4 từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

- Hình phạt tiền được sửa từ phạt theo 01 lần đến 05 lần tiền trục lợi thành phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Tám là: Điều 359. Tội giả mạo trong công tác.

- Về cơ bản, các dấu hiệu định tội giả mạo trong công tác không sửa đổi, đó vẫn là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả và giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

- Khoản 2, khoản 3 và khoản 4 sửa dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng bằng các số lượng giấy tờ giả.

Ví dụ: khoản 2: “c. làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 02 giấy tờ giả đến 05 giấy tờ giả”; khoản 3 “a. Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 05 giấy tờ giả đến 10 giấy tờ giả”; khoản 4 “ a) Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 11 giấy tờ giả trở lên”.

- Khoản 4 bổ sung tình tiết tăng nặng định khung:

“b. Để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung được nâng lên từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng ( thay vì từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng).

Chú ý:  

+ Hành vi sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn chỉ cấu thành tội phạm này khi người có chức vụ, quyền hạn (chủ thể của tội phạm này) đang thực hiện nhiệm vụ được giao mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện các hành vi nói trên. Nếu các hành vi này được thực hiện không phải trong khi thực hiện nhiệm vụ, thì không cấu thành tội phạm này mà có thể là tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 340 BLHS năm 2015).

+ Cần phân biệt tội phạm này với một số tội danh khác. Ví dụ như hành vi sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu để chiếm đoạt tài sản thì có thể là phạm tội tham ô tài sản, hành vi giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản có thể là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hành vi làm sai lệch, giả mạo giấy tờ về kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân có thể là tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân ( Điều 161)… Tùy theo ý thức chủ quan của người phạm tội, mục đích của tội phạm để xác định tội danh chính xác.

+ Tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 4 “để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”, theo chúng tôi là không phù hợp vì:

Một là: Nếu coi các hành vi được thực hiện trong cấu thành cơ bản để thực hiện hành vi phạm tội khác là tình tiết tăng nặng định khung, thì tình tiết “để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng cũng phải là tình tiết của khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Hai là: Nếu các hành vi quy định trong cấu thành cơ bản được thực hiện nhằm “để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” thì người phạm tội bị xử lý theo tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đó và các hành vi làm sai lệch, làm giả giấy tờ, giả mạo chữ ký là các thủ đoạn để thực hiện tội phạm đó (như đã nêu ở trên).

2) Mục 2: Các tội phạm khác về chức vụ

Mục 2 các tội phạm về chức vụ, nhưng không phải tất cả các điều luật quy định trong mục này đều có chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn. Chẳng hạn như các tội đưa hối lộ, môi giới hối lộ, cố ý làm lộ bí mật công tác, chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác, vô ý làm lộ bí mật công tác, làm mất tài liệu bị mật công tác, lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, chúng tôi cũng nhận thấy sự bất cập này khi sắp xếp các tội phạm nói trên vào Mục 2 Chương này. Tuy nhiên, đặt các tội này vào chương nào của BLHS cũng có vướng mắc hoặc không thật sự phù hợp. Để các tội phạm này trong Mục 2 Chương này tuy có bất cập nhưng dù sao cũng là những tội có liên quan trực tiếp đến tội phạm về chức vụ.

Mục 2 Chương này có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:

Một là: Các dấu hiệu mang tính chất định tính, trừu tượng được quy định trong cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng đã được quy định cụ thể trong các tội phạm.

Ví dụ: Hậu quả nghiêm trọng trong cấu thành cơ bản của Điều 360 (tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng) được cụ thể hóa bằng những điểm sau đây:

“a. Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. Hậu quả rất nghiêm trọng là những trường hợp quy định tại các điểm a,b,c,d của khoản 2 và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là những trường hợp quy định tại các điểm a,b,c,d và khoản 3 Điều này.

Hai là: Hầu hết các quy định về mức tiền, trị giá tài sản trong dấu hiệu định tội đều được nâng lên và kéo theo sự nâng mức trị giá tài sản ở các khung tăng nặng.

Ví dụ: khoản 1 Điều 364 (tội đưa hối lộ) đã nâng mức tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến  dưới 100.000.000 đồng (thay vì từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng); mức tiền này được nâng lên ở khoản 2 “từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” (thay vì từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng); khoản 3 “từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (thay vì từ 50.000.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng); khoản 4 từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

Điều này cũng có nghĩa là các tội phạm này được quy định nhẹ hơn (phi hình sự trong các cấu thành của tội phạm).

Ba là: Bổ sung thêm một số tình tiết tăng nặng trong một số tội phạm.

Ví dụ: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khoản 2 Điều 364, khoản 2 Điều 365; tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong khoản 2 Điều 365; Lợi ích phi vật chất trong khoản 1 Điều 364, khoản 1 Điều 365.

Bốn là: Bỏ hình phạt tù chung thân trong tội đưa hối lộ (Điều 364); bỏ hình phạt tù trong khoản 1 Điều 362 “ Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác”

Năm là: Bổ sung dấu hiệu “sẽ đưa” hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào. Quy định  này nhằm mở rộng phạm vi xử lý tội đưa hối lộ.

Sáu là: Mở rộng phạm vi xử lý đối với hành vi phạm tội đưa hối lộ, môi giới hối lộ ra cả lĩnh vực tư bằng quy định tại khoản 6 Điều 364.

“6. Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công,  người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này”.

Và quy định tại khoản 7 Điều 365 “7. Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này”.

12. Chương XXIV: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp gồm 25 điều, từ Điều 367 đến Điều 391. So với BLHS năm 1999 thì tăng 02 điều và đây là 02 điều luật mới. Chương này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Điều 367 khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp được sửa đổi ngắn gọn và khái quát hơn.

“ Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án”

Hai là: Các dấu hiệu có tính chất định tính về hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; thiệt hại nghiêm trọng trong cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng của tất cả các tội phạm quy định trong chương này đều được quy định cụ thể (lượng hóa).

Ví dụ: Điều 368. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hậu quả nghiêm trọng quy đinh ở khoản 2 là:

a) Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

b) Đối với 02 người đến 05 người;

c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ  nữ mà viết là có thai, người già yếu;

d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

đ) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”

Hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại các điểm a,b,c,d khoản 3 Điều này.

Hoặc Điều 370. Tội ra bản án trái pháp luật.

Hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 2 là:

“a. Phạm tội 02 lần trở lên;

b. Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu;

c. Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng;

d. Bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng;

đ. Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện từ 11% đến 45%;

e. Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

g. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

Hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng quy định ở khoản 3 được cụ thể hóa trong các điểm a,b,c,d,đ của Điều này.

Ba là: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp xâm phạm đến sự hoạt động đúng đắn của các hoạt động tố tụng và thi hành án, đồng thời xâm phạm đến các quyền con người trong các hoạt động này mà luật tố tụng đã quy định. Chủ thể của hầu hết các tội phạm trong Chương này là những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng ( trừ các tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động  tư pháp làm trái pháp luật; tội không chấp hành án; tội cản trở việc thi hành án).

Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối; tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu; tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác trong việc khai báo, cung cấp tài liệu; tội che giấu tội phạm, tội không tố giác tội phạm; tội gây rối trật tự phiên tòa). Để tăng cường hiệu quả của hoạt động tố tụng, bảo vệ quyền con người trong hoạt động này, hầu hết các tội mà chủ thể là người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng đều được quy định hình phạt nghiêm khắc hơn.

Ví dụ: Tội dùng nhục hình và tội bức cung đã bổ sung khoản 4 với mức hình phạt nặng “từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân” (thay vì cao nhất là 12 năm tù đối với ội dùng nhục hình và 10 năm tù đối với tội bức cung). Hoặc tội ra bản án trái pháp luật mức hình phạt cũng nâng lên “ở khoản 2” từ 05 năm đến 10 năm (thay vì tù 05 năm đến 15 năm).

Bốn là: Bổ sung một số hành vi hoặc dấu hiệu định tội trong một số tội phạm

- Bổ sung hành vi “để người bị bắt, người đang chấp hành hình phạt tù trốn” trong tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù trốn (Điều 376).

- Bổ sung hành vi trái pháp luật người bị bắt, người đang chấp hành hình phạt tù trong tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù (Điều 378).

- Bổ sung hành vi “từ chối định giá tài sản” trong tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu (Điều 383)

- Bổ sung hành vi dùng nhục hình khi thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong cấu thành cơ bản của Điều 373 tội dùng nhục hình.

- Bổ sung dấu hiệu “có điều kiện mà không chấp hành án” trong khoản 1 Điều 380 tội không chấp hành án.

Năm là: Sửa đổi một số quy định của điều luật hoặc sửa tên điều luật

- Sửa khoản 1 Điều 374 tội bức cung từ quy định “buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật “thành” buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc”

Như vậy, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đén vụ án, vụ việc thì dù thông tin đó là sai hay đúng sự thật cũng là dấu hiệu định tội.

Tuy nhiên, việc sửa từ ngữ có thể không thật chuẩn xác khi dùng từ “sử dụng thủ đoạn trái pháp luật”. Đã là sử dụng thủ đoạn tức là trái pháp luật và nếu hiểu ngược lại thì sẽ có thủ đoạn đúng pháp luật. Trong tội bức cung hoặc tội dùng nhục hình không thể cho pháp hoặc có quy định ngoại lệ nào được phép sử dụng thủ đoạn và khi đã sử dụng thủ đoạn để bức cung hay dùng nhục hình đều là trái pháp luật.

- Sửa cấu thành cơ bản của Điều 382 tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối. Điều luật không quy định người bị hại phạm tội này và chúng tôi cho rằng đây là một sửa đổi tiến bộ và phù hợp đối với người bị hại trong các vụ án hình sự.

- Sửa tội danh “Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật thành “tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối”. Điều 382

Sáu là: Bổ sung 02 tội danh mới:

- Điều 388: Tội vi phạm quy định về giam giữ:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, vi phạm quy định của pháp luật về giam giữ đã bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 119, 170, 252, 253, 254 và 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a. Gây rối hoặc chống lại mệnh lệnh của người có thẩm quyền trong quản lý giam giữ;

b. Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản;

c. Cưỡng đoạt tài sản;

d. Đưa vào, tàng trữ, chiếm đoạt hoặc tổ chức sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

e. Đưa vào, táng trữ, sử dụng thiết bị thông tin liên lạc cá nhân.”

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a. Có tổ chức;

b. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c. Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

d. Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 03 năm.”

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự. Người phạm tội có thể là người đang chấp hành hình phạt tù, chấp hành việc giữ tại các cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc là người có thẩm quyền trong quản lý giam giữ tại các cơ sở giam giữ nói trên.

Khách thể của tội phạm xâm phạm đến các quy định về giam giữ của Nhà nước (Bộ Công an).

Khách quan của tội phạm là những hành vi được quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều này.

Chủ quan của tội phạm là hành vi được thực hiện bằng lỗi cố ý.

- Điều 391. Tội gây rối trật tự phiên tòa.

“1. Người nào tại phiên tòa mà thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm thành viên Hội đồng xét xử, những người khác có mặt tại phiên tòa hoặc có hành vi đập phá tài sản, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a. Gây náo loạn phiên tòa dẫn đến phải dừng phiên tòa;

b. Hành hung thành viên Hội đồng xét xử;

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Chủ quan của tội phạm là hành vi thực hiện do lỗi cố ý.

Khách thể của tội phạm là hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động bình thường và đúng đắn của Hội đồng xét xử tại phiên tòa.

Khách quan của tội phạm được biểu hiện bằng các hành vi thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm thành viên Hội đồng xét xử hoặc những người khác có mặt tại phiên tòa hoặc đập phá tài sản tại phiên tòa.

Về quy định của tội phạm này, chúng tôi có một số ý kiến như sau:

Một là: Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, đã có dự thảo quy định: “Tội không tôn trọng Tòa án” hoặc “Tội can thiệp trái phép vào hoạt động của Tòa án” để thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, hai tội danh này đều không được chấp nhận và được thay bằng “tội gây rối trật tự phiên tòa”.

Hai là: Theo quy định của điều luật, thì chỉ cấu thành tội phạm này khi các hành vi khách quan được thực hiện tại phiên tòa. Nếu các hành vi khách quan đó thực hiện tại các phiên họp do một Thẩm phán chủ trì để giải quyết vụ việc (không có Hội đồng xét xử, thì không phạm tội này mà có thể phạm tội Gây rối trật tự công cộng (Điều 318). Theo chúng tôi, phiên tòa hay phiên họp để Tòa án xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc thì tầm quan trọng, ý nghĩa cũng như nhau. Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa hoặc thành viên của Hội đồng xét xử mà bị thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm cũng chẳng khác gì Thẩm phán chủ trì giải quyết vụ việc dân sự.

Ba là: điểm b khoản 2 Điều này quy định “Hành hung thành viên Hội đồng xét xử”. Có nghĩa là nếu Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư, người bào chữa bị hành hung, thì không phải là tình tiết tăng nặng. Chúng tôi cũng không đồng tình với quy định này. Hành vi hành của người phạm tội xảy ra ngay tại phiên tòa thể hiện tính hung hãn, coi thường pháp luật của người phạm tội. Điều luật chỉ mới thiên về phía bảo vệ Hội đồng xét xử mà chưa tính nguy hiểm của hành vi này. Ưu tiên bảo vệ Hội đồng xét xử là đúng nhưng cũng cần thiết phải bảo vệ cả những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại phiên tòa thì đầy đủ và chính xác hơn.

Bốn là: Gây rối trật tự tại phiên tòa cũng là hành vi gây rối trật tự công cộng, nhưng ở nơi công đường, nơi mà Tòa án, Hội đồng xét xử được Nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xét xử và đưa ra những phán quyết. Đó là đặc thù của tội gây rối trật tự phiên tòa và khi quy định thành một tội phạm riêng, có tính nguy hiểm cao hơn hành vi gây rối trật tự công cộng thông thường khác thì lẽ ra chính sách hình sự đối với tội phạm này phải nghiêm khắc hơn. Ngược lại, các hình phạt đối với tội phạm này lại chỉ được quy định bằng ½ mức hình phạt của tội gây rối trật tự công cộng là không hợp lý và gây rối tại phiên họp sẽ bị xử phạt nặng hơn gây rối phiên tòa.

Năm là: Quy định trong cấu thành cơ bản của tội này mang tính chất định tính “Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm”. Thế nào là nghiêm trọng cũng cần được giải thích, hướng dẫn để thống nhất nhận thức và áp dụng.

Những ý kiến nêu trên của chúng tôi rất tiếc là không được chấp nhận trong quá trình xây dựng điều luật này.

13. CHƯƠNG XXV CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI PHỐI THUỘC VỚI QUÂN ĐỘI TRONG CHIẾN ĐẤU, PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU

Tên của chương này được sửa đổi từ Chương các tội phạm xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, tức là mở rộng phạm vi xử lý đối với cả những người có trách nhiệm phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Chương này gồm 29 điều, từ Điều 392 đến Điều 420. So với Chương này của BLHS năm 1999 thì nhiều hơn 03 điều luật.

Chương này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Mở rộng phạm vi đối tượng phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xân phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đối với “4. Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội” (Điều 392).

Hai là: quy định cụ thể tình tiết định khung “trường hợp đặc biệt khác” trong một số điều luật bằng hai tình tiết:

“Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn” và “trong tình trạng khẩn cấp”. Hai tình tiết này cũng được bổ sung trong một số điều luật của Chương này như Tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 403), Tội báo cáo sai (Điều 408), Tội vi phạm quy định về đạo đức trực ban, trực chiến, trực chỉ huy (Điều 409).

Ba là: Sửa đổi, bổ sung tên một số tội phạm:

- Sửa tên “Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” thành “Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh” (Điều 417).

- Sửa “Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” thành “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự” (Điều 413). Điều luật này, ngoài việc sửa từ “phương tiện kỹ thuật quân sự” thành “trang bị kỹ thuật quân sự” còn bổ sung “Tội cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự”.

- Bổ sung thêm “Trang bị kỹ thuật quân sự” trong tội “Tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự” (Điều 412).

- Bổ sung thêm hành vi “Không làm nhiệm vụ trong chiến đấu” trong “tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu” (Điều 401).

Bốn là: Nhìn chung nhiều quy định về mức hình phạt trong cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng đã được giảm nhẹ hơn như Tội đào ngũ, Tội trốn tránh nhiệm vụ, Tội vi phạm quy định về bảo vệ, Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm. Bỏ hình phạt tù chung thân trong tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu (Điều 401).

Năm là: Tách một số tội ghép thành các tội riêng

- Tách tội làm nhục, hành hung đồng đội (Điều 321 BLHS năm 1999) thành hai tội:

+ Tội làm nhục đồng đội (Điều 397).

+ Tội hành hung đồng đội (Điều 398).

- Tách tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự thành hai tội:

+ Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự (Điều 406)

+ Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự (Điều 407)

Việc tách riêng các tội phạm trong các tội ghép nhằm bảo đảm việc quy định và xử lý đúng hơn đối với các hành vi có tính nguy hiểm khác nhau.

Sáu là: Bổ sung thêm một số tội danh mới:

- Bổ sung tội "Ra mệnh lệnh trái pháp luật (Điều 393)

- Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ (Điều 418). Tội này được xây dựng từ việc tách từng tình tiết tăng nặng của khoản 4 Điều 336 BLHS năm 1999.

Bảy là: Bãi bỏ hai tội "Tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên (Điều 319 BLHS năm 1999) và "Tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới (Điều 320 BLHS năm 1999). Các dấu hiệu của hai tội này được quy định trong tội làm nhục đồng đội (Điều 397) và "Tội hành hung đồng đội" (Điều 398) của luật này.

Tám là: Hầu hết các điều luật vẫn giữ nguyên các tình tiết có tính chất định tính về hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, cũng có một số điều luật quy định cụ thể về thiệt hại nghiêm trọng về tài sản. Ví dụ khoản 1 Điều 410, khoản 1 và khoản 3 Điều 416; Quy định cụ thể về giá trị lớn hoặc rất lớn được lượng hóa trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 419; hoặc số lượng được quy định cụ thể ở điểm b khoản 2 Điều 417. "Đối với 02 thương binh hoặc 02 tử sĩ trở lên".

Chín là: Về lỗi kỹ thuật: điểm d khoản 2 Điều 415 tội quấy nhiễu nhân dân quy định "d, Trong khu vực đã có lệnh ban bố khẩn cấp". Tình trạng khẩn cấp được ban bố trong một khu vực hoặc một địa bàn nào đó và người phạm tội trong hoàn cảnh này đều bị coi là tình tiết tăng nặng. Các điều luật khác trong chương này đều quy định "Trong tình trạng khẩn cấp" là đủ. Chúng tôi cho rằng quy định như điểm d khoản 2 Điều 145 vừa thừa lại vừa thiếu nhất quán trong Chương này.

13. Chương XXVI. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh

Chương này gồm 05 tội, từ Điều 421 đến Điều 425. So với BLHS năm 1999 thì tăng 01 Điều luật. Một số sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:

Một là: Tách tội tuyển mộ lính đánh thuê, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê: "Người nào tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê nhằm chống lại một số quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân"

Đây là tội phạm ghép của 03 tội danh:

- Tội tuyển mộ lính đánh thuê.

- Tội huấn luyện lính đánh thuê.

- Tội sử dụng lính đánh thuê.

Có nghĩa là điều luật này được tách ra từ Điều 344 BLHS năm 1999, nhưng được bổ sung thêm 02 tội danh mới ghép trong Điều này.

- Điều 425. Tội làm lính đánh thuê

"Người nào làm lính đánh thuê nhằm chống lại một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền, thì bị phạt tù từ 05 đến 15 năm".

Hai là: Bỏ hình phạt tử hình trong 03 tội: Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; Tội chống loài người; Tội phạm chiến tranh. Sở dĩ bỏ hình phạt tử hình trong 03 tội này là vì trên thực tế Tòa án không xét xử tội phạm này và việc bỏ bớt hình phạt tử hình trong quy định cũng là một định hướng sửa đổi BLHS. Mặt khác, nếu có các tội phạm này xảy ra thì tương lai sẽ do Tòa án quốc tế xét xử và họ cũng không áp dụng hình phạt tử hình.

IV/ Phần thứ ba: Điều khoản thi hành

Đây là một phần mới được thiết kế, mặc dù phần này chỉ có 01 điều luật.

Điều 426. Hiệu lực thi hành

"Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. BLHS số 15/1999/QH10 và luật số 37/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự hết hiệu lực thi hành kể từ ngày bộ luật này có hiệu lực thi hành". Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015.

V/ Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng Nghị quyết số 109/2015 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự.

Cùng ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua BLHS năm 2015 và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự ngày (xin viết tắt là Nghị quyết số 109/2015). Cần chú ý một số vấn đề sau đây:

1. Kể từ ngày 01/7/2016, Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự năm 2015) được áp dụng như sau:

a) Tất cả các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016;

b) Các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, xóa bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.

Như vậy, những quy định của BLHS năm 2015 có lợi cho bị can, bị cáo, người đang chấp hành hình phạt, xóa án tích thì được áp dụng ngay vì Nghị quyết số 109/2015 có hiệu lực pháp luật ngay ngày 27/11/2015.

Ngược lại những tội phạm mới, những quy định bất lợi cho bị can, bị cáo, người đang được xét giảm hình phạt, xóa án tích… của Bộ luật hình sự năm 2015 thì không được áp dụng đối với các hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016.

Hai là : Nghị quyết khẳng định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội mà BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình; không áp dụng hình phạt tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử; không thi hành án tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên và trường hợp này Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ ra quyết định chuyển xuống thành hình phạt tù chung thân.

Ba là: Đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không xử lý về hình sự đối với những tội phạm không được quy định trong khoản 2 Điều 12 và các điểm b, c khoản 2 Điều 14. Nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ vụ án. Nếu đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án thì người đã bị kết án được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Bốn là: Đối với những tình tiết có tính chất định tính, định lượng quy định trong BLHS năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 thì vẫn được áp dụng những quy định này để điều tra, truy tố, xét xử.

Năm là: Đối với những hành vi phạm tội được quy định tại BLHS năm 1999, nhưng BLHS năm 2015 không coi là tội phạm xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của BLHS năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định thì không được căn cứ vào BLHS năm 2015 không quy định những tội danh này để kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về những tội danh đã được xóa bỏ hoặc đã chấp hành xong bản án, thì vẫn áp dụng các quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 để giải quyết. Nếu sau 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mới bị phát hiện thì không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. (Xem điểm e Điều 1 Nghị quyết số 109/2015).

VI/ Về một số hạn chế, sai sót của Bộ luật hình sự năm 2015

Bộ luật hình sự năm 2015 là một công trình nghiên cứu khoa học đồ sộ và đó là kết tinh của trí tuệ của nhân loại nói chung và trí tuệ Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên có thể do sức ép của thời gian nên Bộ luật hình sự năm 2015 vẫn bộc lộ một số hạn chế, sai sót không đáng có. Chúng tôi xin mạnh dạn nêu lên và kiến nghị cần có đính chính hoặc giải thích những vướng mắc, hạn chế, sai sót của Bộ luật này như sau:

1/ Một số hạn chế trong Phần chung (Phần thứ nhất) của Bộ luật hình sự năm 2015

Có thể nói rằng Phần thứ nhất của Bộ luật hình sự năm 2015 là một phần rất quan trọng của BLHS. Đây là phần chứa đựng những nguyên tắc, tức là những tư tưởng chỉ đạo, điểm xuất phát trong quá trình xây dựng các tội phạm cụ thể của Phần thứ hai: Các tội phạm. Từ ý nghĩa và tầm quan trọng này, các nhà làm luật đã dầy công nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện Phần thứ nhất của BLHS.

Phần thứ nhất của BLHS năm 2015 được thiết kế bởi 12 Chương, với 101 điều luật. So với BLHS năm 1999, thì tăng 02 Chương và 24 điều luật. Chỉ có 11 điều luật được giữ nguyên quy định của BLHS năm 1999, đó là các điều luật quy định về: Hiệu lực của BLHS về thời gian (Điều 7); Cố ý phạm tội (Điều 10); Vô ý phạm tội (Điều 11); Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16); Cảnh cáo (Điều 34); Trục xuất (Điều 37); Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; Buộc công khai xin lỗi (Điều 48); Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 58); Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án (Điều 61); Hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 67); Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 68). Các điều luật còn lại đều được sửa chữa hoặc là về nội dung hoặc là về kỹ thuật lập pháp. Phần chung của BLHS năm 2015 cũng bổ sung nhiều quy định mới thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Như vậy, về cơ bản Phần chung của BLHS năm 2015 đã đáp ứng được yêu cầu của định hướng sửa đổi của BLHS và tương đối hoàn thiện.

Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ Phần chung của BLHS năm 2015, chúng tôi thấy còn một số hạn chế, thiếu sót như sau:

Một là: Khoản 1 Điều 14 thiếu dấu phẩy (,) sau chữ tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113… Khoản 3 của điều luật này thiếu chữ tuổi khi viết "Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi". Nếu đúng phải viết là "Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi".

Hai là: Thiếu chữ hoặc trong câu "Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự". Câu này nếu đúng phải viết là:

"Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự"

Ba là: điểm c khoản 2 Điều 29

"Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận"

Khi điều luật này quy định có chữ "và" tức là người phạm tội chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn hai điều kiện:

- Tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến thấp nhất hậu quả của tội phạm;

- Lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Quy định này không có tính khả thi bởi chữ và giữa các điều kiện nêu trên. So với Điều 25 của BLHS Năm 1999, điểm c khoản 2 Điều 29 bổ sung thêm điều kiện "lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận" là thu hẹp hơn, khắc khe hơn đối với các trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Điều này đi ngược với định hướng hướng thiện của BLHS. Nếu thay chữ "và" bằng chữ "hoặc" thì còn khả dĩ hơn.

Bốn là: điểm đ khoản 1 Điều 51 quy định

"đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội"

Đúng ra phải quy định là: "đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người thực hiện phạm tội". Vì khi họ bị bắt giữ thì người đó chưa phải là người phạm tội. Mặt khác, quy định tại Điều 24 "Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội" cũng không thật chính xác bởi lý do nêu trên và ngay trong điều luật này cũng quy định là "Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác…".

Năm là: điểm i khoản 1 Điều 52 quy định:

"i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên"

Tư tưởng thống nhất của Bộ luật này là chỉ coi là tình tiết  tăng nặng, tình tiết định khung tăng nặng đối với trường hợp người phạm tội biết rõ phụ nữ có thai mà vẫn phạm tội với họ. Các tình tiết định khung tăng nặng của các tội phạm trong Phần các tội phạm đều quy định "Phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai" chẳng hạn "Giết phụ nữ mà biết là có thai" (điểm c khoản 1 Điều 123); "đối với phụ nữ mà biết là có thai" (điểm c khoản 2 Điều 148)…

Như vậy, điểm i khoản 1 Điều 52 phải viết là:

"i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người đủ 70 tuổi trở lên" mới đảm bảo sự thống nhất giữa Phần chung và phần các tội phạm.

Sáu là: Trong thực tiễn xét xử, có những trường hợp Tòa án phải tuyên trả lại cho bị cáo vật, tiền bạc không liên quan tới vụ án, nhưng đã bị cơ quan điều tra thu giữ. Tuy nhiên, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đều không quy định về vấn đề này và các Tòa án trả lại vật, tiền nhưng không biết căn cứ vào quy định nào của BLHS. Rất tiếc là đề xuất bổ sung quy định này vào BLHS năm 2015 của chúng tôi vẫn không được chấp nhận, và khi gặp trường hợp này Tòa án vẫn tuyên trả không căn cứ vào điều luật nào.

Bảy là: khoản 3 Điều 62 quy định:

"Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn  hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt".

So với Điều 57 BLHS năm 1999, thì điều luật này bỏ trường hợp người bị kết án đã được hoãn chấp hành hình phạt. Vậy người được hoãn chấp hành hình phạt có nằm trong trường hợp chưa chấp hành hình phạt không ? Chúng tôi cho rằng hoãn chấp hành hình phạt cũng là chưa chấp hành hình phạt, nhưng không hoàn toàn giống với trường hợp chưa chấp hành hình phạt bởi hoãn chấp hành hình phạt là trường hợp được Tòa án xem xét, quyết định căn cứ vào Điều 67 "Hoãn chấp hành hình phạt tù". Chưa chấp hành hình phạt có thể do Tòa án chưa ra quyết định thi hành  án hoặc có thể do người bị kết án trốn thi hành án.

Do đó, chúng tôi cho rằng quy định tại Điều 57 BLHS  năm 1999 rõ ràng và phù hợp hơn so với việc sửa đổi tại Điều 63 BLHS năm 2015.

Tám là:  Quy định không rõ ràng và chưa đầy đủ  tại khoản 3 Điều 63 trong trường hợp phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, trong đó có bản án xử phạt tù chung thân. Vấn đề này chúng tôi đã nêu tại mục 9.3 điểm 9 phần I của bài viết này.

Chín là: Sử dụng thuật ngữ pháp lý không thống nhất trong một số điều luật. Vú dụ: Điều 66 Tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định

“1. Người đang chấp hành án phạt tù”. Các điều luật khác như Điều 63, Điều 67, Điều 68 đều sử dụng thuật ngữ “ người đang chấp hành hình phạt” hoặc “ thời hạn chấp hành hình phạt” hoặc “ hoãn chấp hành hình phạt”. Chúng tôi cho rằng phải cho dụng thuật ngữ  “chấp hành hình phạt” mới chính xác.

- Ngay trong Điều 103 việc sử dụng thuật ngữ đã không thống nhất giữa các khoản trong điều luật này. Khoản 2 của điều luật này viết là “nếu mức hình phạt đã tuyên…”, khoản 3 của điều luật này viết là “nếu mức hình phạt Tòa án tuyên…”

- Khoản 1 Điều 4  quy định “cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác…” . Trong tất cả các quy định của Phần thứ nhất chỉ sử dụng “Viện kiểm sát”, “Tòa án” mà không có chữ “nhân dân”.

- BLHS năm 2015 thống nhất sử dụng số thay cho chữ , ví dụ 01 năm, 01 tháng, 01 ngày, 01 lần nhưng việc sử dụng này cũng không thống nhất. Ví dụ: Khoản 4 Điều 36 vẫn viết là “một ngày”; khoản 1 Điều 54 vẫn viết là “ hai tình tiết”. Trong khi đó các điều luật khác, chẳng hạn như khoản 1 Điều 38 viết là “ cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù”.

Mười là: Thiếu từ trong điều luật

Ví dụ: Điều 71 thiếu chữ của trong câu “thời gian thử thách án treo”. Lẽ ra phải viết đầy đủ và đúng là “ thời gian thử thách của án treo” vì trong BLHS không phải chỉ có án treo mới có thời gian thử thách mà quy định này còn có trong tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Mười một là: BLHS thống nhất sử dụng dấu phẩy trước các liên từ “ Thì” hoặc “ Nhưng” để bảo đảm rõ ràng trong câu. Tuy nhiên việc áp dụng còn sai sót, không dùng dấu phẩy ở : Khoản 1 Điều 14; Điều 25; Điều 26; điểm a Khoản 2 Điều 29 ( dấu phẩy trước chữ xét xử); Khoản 2 Điều 54, Khoản  3 Điều 57; Khoản 5 Điều 62; Khoản 3,5,6 Điều 63; Khoản 4và 5 Điều 66 ; đoạn cuối khoản 2 và khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều 71; khoản 2 và 3 Điều 73; điểm b khoản 3 Điều 103; khoản 2 Điều 107.

Mười hai là: Khoản 2 Điều 12 quy định “ Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi” cũng là không thống nhất với một số điều luật khác khi các điều luật đó sử dụng các cụm từ “ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Ví dụ khoản 3 Điều 14; khoản 2 Điều 91; điểm b khoản 1 Điều 95; khoản 2 Điều 101; khoản 1 và 2 Điều 103; điểm a khoản 1 Điều 107).

Mười ba là: Khoản 2 Điều 12 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…”. Theo quy định này thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, bất kể là phạm tội ở Khoản nào của điều luật này (Điều 134). Chúng tôi cho rằng quy định này là quá nghiêm khắc đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi họ chỉ phạm tội này ở Khoản 1, 2 và 3 là các tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng. Mặc dù điểm b Khoản 2 Điều 91 cho phép có thể miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp được quy định tại Mục 2 Chương XII nếu họ chỉ phạm tội ở Khoản 1, 2 và Khoản 3 Điều 134, chỉ không được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương XII nếu phạm tội ở các khoản 4, 5 và 6 Điều 134, nhưng điều này cũng không làm giảm bớt nặng nề, quá khắt khe của chính sách hình sự đối với trẻ em ở lứa tuổi còn quá non nớt này.

Mười bốn là: Quy định tại Mục 2 Chương XII “Các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự “thực chất là cá quy định cụ thể hơn của Khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999, nhưng lại theo hướng nghiêm khắc hơn bởi các quy định về nghĩa vụ trong các biện pháp được áp dụng. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các Tòa án rất ít, thậm chí là không mạnh dạn áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi quy định tại Điều 69 và 70 BLHS năm 1999. Các quy định mới, rộng mở về phạm vi áp dụng liệu có khả thi trong thực tiễn nếu như các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thay đổi nhận thức và chưa mạnh dạn áp dụng?

Mười lăm là: Khoản 2 Điều 107 xóa án tích quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.

Quy định này chỉ có lợi trong trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, ngược lại thì người ở độ tuổi này phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý lại bất lợi so với quy định tại Điều 64 BLHS năm 1999 và so với quy định tại Khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được đương nhiên xóa án tích nếu bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng cũng phải bảo đảm thời hạn 03 năm như quy định tại điểm C Khoản 2 Điều 70 “C) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm”. Như vậy, quy định tại Khoản 2 Điều 107 rõ ràng là không thể hiện được chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị kết án.

2/ Những hạn chế, sai sót trong Phần thứ hai “Các tội phạm”

Ngoài những hạn chế, sai sót chúng tôi đã nêu trong một số quy định của bài viết như: Điều 337 Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước, tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước; Tội giả mạo trong công tác (Điều 359); Cách thiết kế Khoản 4 trong Mục 1 Các tội xâm phạm an toàn giao thông của Chương XXI Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng hoặc Khoản 4 Điều 295 Tộ vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người; Khoản 4 Điều 298 tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng; Khoản 4 Điều 360 tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, một số bất cập trong quy định tại Điều 391, về giám định hàm lượng ma túy là chất rắn… Chúng tôi xin nêu một số hạn chế, sai sót sau đây:

Một là: Các tình tiết có tính chất định tính, định lượng về cơ bản đã được quy định cụ thể, lượng hóa, trừ Chương XXV Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, nhưng một số tội danh được thay bằng quy định cũng mang tính định tính khác như “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Đây là một tình tiết cần được hướng dẫn, giải thích.

Hai là: Điểm a Khoản 2 Điều 376 “Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù trốn” quy định “a) Là vụ án bị đình chỉ”.

Theo chúng tôi quy định này không chính xác vì những lý do sau đây:

Theo quy định tại Điều 164, Điều 169, Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và quy định tại Điều 230, Ddiefu 248, Điều 282, Khoản 2 Điều 155, các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đều không có quy định trường hợp người phạm tội bỏ trốn thì đình chỉ vụ án hay đây không phải là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ vụ án.

Hai là: Trường hợp người phạm tội trốn khi chưa xét xử thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ, yêu cầu cơ quan điều tra truy nã. Nếu truy nã có kết quả thì Tòa án xét xử theo thủ tục bình thường, nếu truy nã không có kết quả thì Tòa án xét xử vắng mặt. Trường hợp đang chấp hành án mà trốn thì cơ quan công an ra quyết định truy nã. Không bao giờ được ra quyết định đình chỉ vụ án đối với các trường hợp này.

Ba là: Việc sử dụng từ ngữ không thống nhất trong một số điều luật hoặc ngay trong cùng điều luật.

Ví dụ: Điều 368. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội tên của tội phạm là “Người không có tội”, cấu thành cơ bản của tội này cũng là “biết rõ là không có tội”, nhưng trong cấu thành tăng nặng lại dùng là “Dẫn đến kết án oan người vô tội”.

Cụm từ “người vô tội” còn được sử dụng trong một số tội danh khác như Tội ra bản án trái pháp luật. Chúng tôi cho rằng dùng từ “Không có tội” là chính xác với ngôn ngữ Việt Nam, “Vô tội” là một từ Hán Việt và không nên sử dụng trong văn bản pháp luật.

Hoặc trong cấu thành cơ bản của hầu hết các điều luật đều sử dụng từ “thực hiện hành vi” hoặc “thực hiện một trong những hành vi sau đây”. Tuy nhiên vẫn còn một số tội “quên” không sửa nên vẫn dùng là “có một trong những hành vi sau đây” hoặc “có hành vi sau đây” (Điều 117, Điều 146)

Bốn là: thiếu từ ngữ trong một số điều luật

Ví dụ thiếu chữ “Nhiễm” trong “bị HIV” (Khoản 1 Điều 148)

- Thiếu chữ “cho” và chữ “của” trong điểm g Khoản 2 Điều 153.

- Thiếu chữ “vào” trong câu “Lâm tình trạng nguy hiểm…” Điều 186.

- Thiếu chữ “gây thương tích” tại điểm b Khoản 2 Điều 199 và điểm b Khoản 3 Điều 199.

- Thiếu chữ “có khối lượng” trong điểm a và điểm b Khoản 1 Điều 239.

- Thiếu chữ “từ” trong điểm b Khoản 2 Điều 368.

- Thiếu chữ “của” trong Khoản 1 Điều 391 “danh dự, nhân phẩm thành viên Hội đồng xét xử”. Đúng ra là “của thành viên Hội đồng xét xử”.

Năm là: thiếu dấu phẩy (,) trong một số quy định

- Khoản 1 Điều 172 thiếu dấu phẩy trước chữ “nhưng”.

- Điểm b Khoản 2 Điều 199 thiếu dấu phẩy sau chữ “trở lên”; điểm b Khoản 3 Điều này cũng thiếu dấu phẩy sau chữ “trở lên”.

- Thiếu dấu phẩy trước chữ “thì” trong Khoản 1 Điều 391.

Sáu là: thừa chữ hoặc thừa dấu phẩy.

- Thừa chữ “từ” trong điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm a Khoản 4 Điều 359; điểm a Khoản 1 Điều 360.

- Thừa dấu phẩy tại điểm a Khoản 2 Điều 137.

Bảy là: tình tiết “phạm tội với nhiều người” hoặc “nhiều người phạm tội” được quy định cụ thể và thống nhất trong các điều luật là 02 người trở lên, 02 người đến 05 người… Tuy nhiên điểm a Khoản 2 Điều 143; a Khoản 3 Điều 144 vẫn quy định là “nhiều người cưỡng dâm một người” mà không quy định thống nhất là 02 người trở lên cưỡng dâm một người.

Tám là: Một số tội phạm vi phạm quy định của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, quản lý hành chính, quản lý về an toàn công cộng, trật tự công cộng… có tội thì quy định là “Tội vi phạm quy định…” có tội quy định là “tội vi phạm các quy định”. Đây cũng là quy định thiếu nhất quán của BLHS. Các quy định của Nhà nước trong từng lĩnh vực bao gồm nhiều quy định cụ thể chứ không phải chỉ có một quy định. Nếu điều luật quy định “vi phạm các quy định” thì dễ bị hiểu là tội phạm cấu thành khi vi phạm nhiều quy định vì các cũng là số nhiều. Thực tiễn thì người phạm tội chỉ vi phạm một trong các quy định của Nhà nước đã cấu thành tội phạm trong lĩnh vực đó rồi. Do đó, chúng tôi cho rằng không nên dùng từ “các quy định” vì không thật chính xác.

Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối; tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu; tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác trong việc khai báo, cung cấp tài liệu; tội che giấu tội phạm, tội không tố giác tội phạm; tội gây rối trật tự phiên tòa). Để tăng cường hiệu quả của hoạt động tố tụng, bảo vệ quyền con người trong hoạt động này, hầu hết các tội mà chủ thể là người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng đều được quy định hình phạt nghiêm khắc hơn.

Ví dụ: Tội dùng nhục hình và tội bức cung đã bổ sung khoản 4 với mức hình phạt nặng  “từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân” (thay vì cao nhất là 12 năm tù đối với tội dùng nhục hình và 10 năm tù đối với tội bức cung). Hoặc tội ra bản án trái pháp luật mức hình phạt cũng nâng lên  ở khoản 2 “từ 05 năm đến 10 năm” (thay vì tù 05 năm đến 15 năm).

Bốn là: Bổ sung một số hành vi hoặc dấu hiệu định tội trong một số tội phạm

- Bổ sung hành vi dùng nhục hình khi thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong cấu thành cơ bản của Điều 373 tội dùng nhục hình.

- Bổ sung hành vi “để người bị bắt, người đang chấp hành hình phạt tù trốn” trong tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù trốn (Điều 376).

- Bổ sung hành vi  tha trái pháp luật người bị bắt, người đang chấp hành hình phạt tù trong tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù (Điều 378).

- Bổ sung hành vi “từ chối định giá tài sản” trong tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu (Điều 383)

- Bổ sung dấu hiệu “có điều kiện mà không chấp hành án” trong khoản 1 Điều 380 tội không chấp hành án.

Năm là: Sửa đổi một số quy định của điều luật hoặc sửa tên điều luật

- Sửa khoản 1 Điều 374 tội bức cung từ quy định “buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật thành  buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc”

Như vậy, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc thì dù thông tin đó là sai hay đúng sự thật cũng là dấu hiệu định tội.

Tuy nhiên, việc sửa từ ngữ có thể không thật chuẩn xác khi dùng từ “sử dụng thủ đoạn trái pháp luật”. Đã là sử dụng thủ đoạn tức là trái pháp luật và nếu hiểu ngược lại thì sẽ có thủ đoạn đúng pháp luật. Trong tội bức cung hoặc tội dùng nhục hình không thể cho phép hoặc có quy định ngoại lệ nào được phép sử dụng thủ đoạn và khi đã sử dụng thủ đoạn để bức cung hay dùng nhục hình đều là trái pháp luật.

- Sửa cấu thành cơ bản của Điều 383 tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu. Điều luật không quy định người bị hại phạm tội này và chúng tôi cho rằng đây là một sửa đổi tiến bộ và phù hợp đối với người bị hại trong các vụ án hình sự.

- Sửa tội danh “Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật thành Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối”. Điều 382

Sáu là: Bổ sung 02 tội danh mới:

- Điều 388: Tội vi phạm quy định về giam giữ:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, vi phạm quy định của pháp luật về giam giữ đã bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 119, 170, 252, 253, 254 và 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Gây rối hoặc chống lại mệnh lệnh của người có thẩm quyền trong quản lý giam giữ;

b) Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản;

c) Cưỡng đoạt tài sản;

d) Đưa vào, tàng trữ, chiếm đoạt hoặc tổ chức sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

e) Đưa vào, tàng trữ, sử dụng thiết bị thông tin liên lạc cá nhân.”

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 03 năm.”

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự. Người phạm tội có thể là người đang chấp hành hình phạt tù, chấp hành việc giữ tại các cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc là người có thẩm quyền trong quản lý giam giữ tại các cơ sở giam giữ nói trên.

Khách thể của tội phạm xâm phạm đến các quy định về giam giữ của Nhà nước (Bộ Công an).

Khách quan của tội phạm là những hành vi được quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều này.

Chủ quan của tội phạm là hành vi được thực hiện bằng lỗi cố ý.

- Điều 391. Tội gây rối trật tự phiên tòa.

“1. Người nào tại phiên tòa mà thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm thành viên Hội đồng xét xử, những người khác có mặt tại phiên tòa hoặc có hành vi đập phá tài sản, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a. Gây náo loạn phiên tòa dẫn đến phải dừng phiên tòa;

b. Hành hung thành viên Hội đồng xét xử.”

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Chủ quan của tội phạm là hành vi thực hiện do lỗi cố ý.

Khách thể của tội phạm là hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động bình thường và đúng đắn của Hội đồng xét xử tại phiên tòa.

Khách quan của tội phạm được biểu hiện bằng các hành vi thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm thành viên Hội đồng xét xử hoặc những người khác có mặt tại phiên tòa hoặc đập phá tài sản tại phiên tòa.

Về quy định của tội phạm này, chúng tôi có một số ý kiến như sau:

Một là: Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, đã có dự thảo quy định: “Tội không tôn trọng Tòa án” hoặc “Tội can thiệp trái phép vào hoạt động của Tòa án” để thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, hai tội danh này đều không được chấp nhận và được thay bằng “tội gây rối trật tự phiên tòa”.

Hai là: Theo quy định của điều luật, thì chỉ cấu thành tội phạm này khi các hành vi khách quan được thực hiện tại phiên tòa. Nếu các hành vi khách quan đó thực hiện tại các phiên họp do một Thẩm phán chủ trì để giải quyết vụ việc (không có Hội đồng xét xử, thì cũng phạm tội này vì  phiên tòa hay phiên họp để Tòa án xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc thì tầm quan trọng, ý nghĩa cũng như nhau. Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa hoặc thành viên của Hội đồng xét xử mà bị thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm cũng chẳng khác gì Thẩm phán chủ trì giải quyết vụ việc dân sự. Khoản 4 Điều 467 BLTTHS năm 2015 “xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa quy định” 4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.

Ba là: điểm b khoản 2 Điều này quy định “Hành hung thành viên Hội đồng xét xử”. Có nghĩa là nếu Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư, người bào chữa bị hành hung, thì không phải là tình tiết tăng nặng. Chúng tôi không đồng tình với quy định này. Hành vi hành của người phạm tội xảy ra ngay tại phiên tòa thể hiện tính hung hãn, coi thường pháp luật của người phạm tội. Điều luật chỉ mới thiên về phía bảo vệ Hội đồng xét xử mà chưa tính nguy hiểm của hành vi này. Ưu tiên bảo vệ Hội đồng xét xử là đúng nhưng cũng cần thiết phải bảo vệ cả những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại phiên tòa thì đầy đủ và chính xác hơn.

Bốn là: Gây rối trật tự tại phiên tòa cũng là hành vi gây rối trật tự công cộng, nhưng ở nơi công đường, nơi mà Tòa án, Hội đồng xét xử được Nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xét xử và đưa ra những phán quyết. Đó là đặc thù của tội gây rối trật tự phiên tòa và khi quy định thành một tội phạm riêng, có tính nguy hiểm cao hơn hành vi gây rối trật tự công cộng thông thường khác thì lẽ ra chính sách hình sự đối với tội phạm này phải nghiêm khắc hơn. Ngược lại, các hình phạt đối với tội phạm này lại chỉ được quy định bằng ½ mức hình phạt của tội gây rối trật tự công cộng thông thường khác là không hợp lý.

Năm là: Quy định trong cấu thành cơ bản của tội này mang tính chất định tính “Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm”. Thế nào là nghiêm trọng cũng cần được giải thích, hướng dẫn để thống nhất nhận thức và áp dụng.

Những ý kiến nêu trên của chúng tôi rất tiếc là không được chấp nhận trong quá trình xây dựng điều luật này.

13. CHƯƠNG XXV CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI PHỐI THUỘC VỚI QUÂN ĐỘI TRONG CHIẾN ĐẤU, PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU

Tên của Chương này được sửa đổi từ Chương các tội phạm xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, tức là mở rộng phạm vi xử lý đối với cả những người có trách nhiệm phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Chương này gồm 29 điều, từ Điều 392 đến Điều 420. So với Chương này của BLHS năm 1999 thì nhiều hơn 03 điều luật.

Chương này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Mở rộng phạm vi đối tượng phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đối với “4. Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội” (Điều 392).

Hai là: Quy định cụ thể tình tiết định khung “trường hợp đặc biệt khác” trong một số điều luật bằng hai tình tiết:

“Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn” và “trong tình trạng khẩn cấp”. Hai tình tiết này cũng được bổ sung trong một số điều luật của Chương này như Tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 403), Tội báo cáo sai (Điều 408), Tội vi phạm quy định về trực ban, trực chiến, trực chỉ huy (Điều 409).

Ba là: Sửa đổi, bổ sung tên một số tội phạm:

- Sửa tên “Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” thành “Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh” (Điều 417).

- Sửa “Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” thành “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự” (Điều 413). Điều luật này, ngoài việc sửa từ “phương tiện kỹ thuật quân sự” thành “trang bị kỹ thuật quân sự” còn bổ sung “Tội cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự”.

- Bổ sung thêm “Trang bị kỹ thuật quân sự” trong tội “Tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự” (Điều 412).

- Bổ sung thêm hành vi “Không làm nhiệm vụ trong chiến đấu” trong “tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu” (Điều 401).

Bốn là: Nhìn chung nhiều quy định về mức hình phạt trong cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng đã được giảm nhẹ hơn như Tội đào ngũ, Tội trốn tránh nhiệm vụ, Tội vi phạm quy định về bảo vệ, Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm. Bỏ hình phạt tù chung thân trong tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu (Điều 401).

Năm là: Tách một số tội ghép thành các tội riêng

- Tách tội làm nhục, hành hung đồng đội (Điều 321 BLHS năm 1999) thành hai tội:

+ Tội làm nhục đồng đội (Điều 397).

+ Tội hành hung đồng đội (Điều 398).

- Tách tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự thành hai tội:

+ Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự (Điều 406)

+ Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự (Điều 407)

Việc tách riêng các tội phạm trong các tội ghép nhằm bảo đảm việc quy định và xử lý đúng hơn đối với các hành vi có tính nguy hiểm khác nhau.

Sáu là: Bổ sung thêm một số tội danh mới:

- Bổ sung tội "Ra mệnh lệnh trái pháp luật (Điều 393)

- Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ (Điều 418). Tội này được xây dựng từ việc tách từ tình tiết tăng nặng của khoản 4 Điều 336 BLHS năm 1999.

Bảy là: Bãi bỏ hai tội "Tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên (Điều 319 BLHS năm 1999) và "Tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới (Điều 320 BLHS năm 1999). Các dấu hiệu của hai tội này được quy định trong tội làm nhục đồng đội (Điều 397) và "Tội hành hung đồng đội" (Điều 398) của luật này.

Tám là: Hầu hết các điều luật vẫn giữ nguyên các tình tiết có tính chất định tính về hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, cũng có một số điều luật quy định cụ thể về thiệt hại nghiêm trọng về tài sản. Ví dụ khoản 1 Điều 410, khoản 1 và khoản 3 Điều 416; Quy định cụ thể về giá trị lớn hoặc rất lớn được lượng hóa trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 419; hoặc số lượng được quy định cụ thể ở điểm b khoản 2 Điều 417. "Đối với 02 thương binh hoặc 02 tử sĩ trở lên".

Chín là: Về lỗi kỹ thuật: điểm d khoản 2 Điều 415 tội quấy nhiễu nhân dân quy định "d, Trong khu vực đã có lệnh ban bố khẩn cấp". Tình trạng khẩn cấp được ban bố trong một khu vực hoặc một địa bàn nào đó và người phạm tội trong hoàn cảnh này đều bị coi là tình tiết tăng nặng. Các điều luật khác trong chương này đều quy định "Trong tình trạng khẩn cấp" là đủ. Chúng tôi cho rằng quy định như điểm d khoản 2 Điều 145 vừa thừa lại vừa thiếu nhất quán trong Chương này.

13. Chương XXVI. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh

Chương này gồm 05 tội, từ Điều 421 đến Điều 425. So với BLHS năm 1999 thì tăng 01 Điều luật. Một số sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:

Một là: Tách tội tuyển mộ lính đánh thuê, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê: "Người nào tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê nhằm chống lại một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân"

Đây là tội phạm ghép của 03 tội danh:

- Tội tuyển mộ lính đánh thuê.

- Tội huấn luyện lính đánh thuê.

- Tội sử dụng lính đánh thuê.

Điều luật này được tách ra từ Điều 344 BLHS năm 1999, nhưng được bổ sung thêm 02 tội danh mới ghép trong Điều này.

- Điều 425. Tội làm lính đánh thuê

"Người nào làm lính đánh thuê nhằm chống lại một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền, thì bị phạt tù từ 05 đến 15 năm"

Hai là: Bỏ hình phạt tử hình trong 03 tội: Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; Tội chống loài người; Tội phạm chiến tranh. Sở dĩ bỏ hình phạt tử hình trong 03 tội này là vì trên thực tế Tòa án không xét xử tội phạm này và việc bỏ bớt hình phạt tử hình trong quy định cũng là một định hướng sửa đổi BLHS. Mặt khác, nếu có các tội phạm này xảy ra thì tương lai sẽ do Tòa án quốc tế xét xử và họ cũng không áp dụng hình phạt tử hình.

IV/ Phần thứ ba: Điều khoản thi hành

Đây là một phần mới được thiết kế, mặc dù phần này chỉ có 01 điều luật.

Điều 426. Hiệu lực thi hành

"Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. BLHS số 15/1999/QH10 và luật số 37/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành". Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015.

V/ Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng Nghị quyết số 109/2015 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự.

Cùng ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thng qua BLHS năm 2015 và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự này (xin viết tắt là Nghị quyết số 109/2015). Cần chú ý một số vấn đề sau đây:

1. Kể từ ngày 01/7/2016, Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự năm 2015) được áp dụng như sau:

a) Tất cả các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016;

b) Các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, xóa bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.

Như vậy, những quy định của BLHS năm 2015 có lợi cho bị can, bị cáo, người đang chấp hành hình phạt, xóa án tích thì được áp dụng ngay vì Nghị quyết số 109/2015 có hiệu lực pháp luật ngay ngày 27/11/2015.

Ngược lại những tội phạm mới, những quy định bất lợi cho bị can, bị cáo, người đang được xét giảm hình phạt, xóa án tích… của Bộ luật hình sự năm 2015 thì không được áp dụng đối với các hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016.

Hai là: Nghị quyết khẳng định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội mà BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình; không áp dụng hình phạt tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử; không thi hành án tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên và trường hợp này Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ ra quyết định chuyển xuống thành hình phạt tù chung thân.

Ba là: Đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không xử lý về hình sự đối với những tội phạm không được quy định trong khoản 2 Điều 12 và các điểm b, c khoản 2 Điều 14. Nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ vụ án. Nếu đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án thì người đã bị kết án được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Bốn là: Đối với những tình tiết có tính chất định tính, định lượng quy định trong BLHS năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 thì vẫn được áp dụng những quy định này để điều tra, truy tố, xét xử.

Năm là: Đối với những hành vi phạm tội được quy định tại BLHS năm 1999, nhưng BLHS năm 2015 không coi là tội phạm xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của BLHS năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định thì không được căn cứ vào BLHS năm 2015 không quy định những tội danh này để kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về những tội danh đã được xóa bỏ hoặc đã chấp hành xong bản án, thì vẫn áp dụng các quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 để giải quyết. Nếu sau 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mới bị phát hiện thì không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. (Xem điểm e Điều 1 Nghị quyết số 109/2015).

VI/ Về một số hạn chế, sai sót của Bộ luật hình sự năm 2015

Bộ luật hình sự năm 2015 là một công trình nghiên cứu khoa học đồ sộ và đó là kết tinh của trí tuệ của nhân loại nói chung và trí tuệ Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên có thể do sức ép của thời gian nên Bộ luật hình sự năm 2015 vẫn bộc lộ một số hạn chế, sai sót không đáng có. Chúng tôi xin mạnh dạn nêu lên và kiến nghị cần có đính chính hoặc giải thích những vướng mắc, hạn chế, sai sót của Bộ luật này như sau:

1/ Một số hạn chế trong Phần chung (Phần thứ nhất) của Bộ luật hình sự năm 2015

Có thể nói rằng Phần thứ nhất của Bộ luật hình sự năm 2015 là một phần rất quan trọng của BLHS. Đây là phần chứa đựng những nguyên tắc, tức là những tư tưởng chỉ đạo, điểm xuất phát trong quá trình xây dựng các tội phạm cụ thể của Phần thứ hai: Các tội phạm. Từ ý nghĩa và tầm quan trọng này, các nhà làm luật đã dầy công nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện Phần thứ nhất của BLHS.

Phần thứ nhất của BLHS năm 2015 được thiết kế bởi 12 Chương, với 101 điều luật. So với BLHS năm 1999, thì tăng 02 Chương và 24 điều luật. Chỉ có 11 điều luật được giữ nguyên quy định của BLHS năm 1999, đó là các điều luật quy định về: Hiệu lực của BLHS về thời gian (Điều 7); Cố ý phạm tội (Điều 10); Vô ý phạm tội (Điều 11); Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16); Cảnh cáo (Điều 34); Trục xuất (Điều 37); Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; Buộc công khai xin lỗi (Điều 48); Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 58); Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án (Điều 61); Hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 67); Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 68). Các điều luật còn lại đều được sửa chữa hoặc là về nội dung hoặc là về kỹ thuật lập pháp. Phần chung của BLHS năm 2015 cũng bổ sung nhiều quy định mới thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Như vậy, về cơ bản Phần chung của BLHS năm 2015 đã đáp ứng được yêu cầu của định hướng sửa đổi của BLHS và tương đối hoàn thiện.

Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ Phần chung của BLHS năm 2015, chúng tôi thấy còn một số hạn chế, thiếu sót như sau:

Một là: Khoản 3 của điều luật này thiếu chữ  “tuổi” khi viết “Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi”. Nếu đúng phải viết là "Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi".

Hai là: Thiếu chữ “hoặc” trong câu "Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự". Câu này nếu đúng phải viết là:

"Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự"

Ba là: điểm c khoản 2 Điều 29

"Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến thấp nhất hậu quả của tội phạm lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận".

Khi điều luật này quy định có chữ "và" tức là người phạm tội chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn hai điều kiện:

- Tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến thấp nhất hậu quả của tội phạm;

- Lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Quy định này không có tính khả thi bởi chữ và giữa các điều kiện nêu trên. So với Điều 25 của BLHS Năm 1999, điểm c khoản 2 Điều 29 bổ sung thêm điều kiện "lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận" là thu hẹp hơn, khắc khe hơn đối với các trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Điều này đi ngược với định hướng hướng thiện của BLHS. Nếu thay chữ "và" bằng chữ "hoặc" thì còn khả dĩ hơn.

Bốn là: điểm đ khoản 1 Điều 51 quy định

"đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội"

Đúng ra phải quy định là: "đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội". Vì khi họ bị bắt giữ thì người đó chưa phải là người phạm tội. Mặt khác, quy định tại Điều 24 "Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội" cũng không thật chính xác bởi lý do nêu trên và ngay trong điều luật này cũng quy định là "Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác…".

Năm là: điểm i khoản 1 Điều 52 quy định:

"i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên"

Tư tưởng thống nhất của Bộ luật này là chỉ coi là tình tiết  tăng nặng, tình tiết định khung tăng nặng đối với trường hợp người phạm tội biết rõ phụ nữ có thai mà vẫn phạm tội với họ. Các tình tiết định khung tăng nặng của các tội phạm trong Phần các tội phạm đều quy định "Phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai" chẳng hạn "Giết phụ nữ mà biết là có thai" (điểm c khoản 1 Điều 123); "đối với phụ nữ mà biết là có thai" (điểm c khoản 2 Điều 148)…

Như vậy, điểm i khoản 1 Điều 52 phải viết là:

"i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người đủ 70 tuổi trở lên" mới đảm bảo sự thống nhất giữa Phần chung và Phần các tội phạm.

Sáu là: Trong thực tiễn xét xử, có những trường hợp Tòa án phải tuyên trả lại cho bị cáo vật, tiền bạc không liên quan tới vụ án, nhưng đã bị cơ quan điều tra thu giữ. Tuy nhiên, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đều không quy định về vấn đề này và các Tòa án trả lại vật, tiền nhưng không biết căn cứ vào quy định nào của BLHS. Rất tiếc là đề xuất bổ sung quy định này vào BLHS năm 2015 của chúng tôi vẫn không được chấp nhận, và khi gặp trường hợp này Tòa án vẫn tuyên trả không căn cứ vào điều luật nào của BLHS. Nếu căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 76 của BLTTHS năm 2003 hoặc quy định tại khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 thì đó là trường hợp bị cáo là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó. Tòa án quyết định hình phạt, quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án lại phải căn cứ vào quy định của BLHS. Đó là một vướng mắc khi giải quyết vấn đề này.

Bảy là: khoản 3 Điều 62 quy định:

"Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn  hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt".

So với Điều 57 BLHS năm 1999, thì điều luật này bỏ trường hợp người bị kết án đã được hoãn chấp hành hình phạt. Vậy người được hoãn chấp hành hình phạt có nằm trong trường hợp chưa chấp hành hình phạt không ? Chúng tôi cho rằng hoãn chấp hành hình phạt cũng là chưa chấp hành hình phạt, nhưng không hoàn toàn giống với trường hợp chưa chấp hành hình phạt bởi hoãn chấp hành hình phạt là trường hợp được Tòa án xem xét, quyết định căn cứ vào Điều 67 "Hoãn chấp hành hình phạt tù". Chưa chấp hành hình phạt có thể do Tòa án chưa ra quyết định thi hành  án hoặc có thể do người bị kết án trốn thi hành án.

Do đó, chúng tôi cho rằng quy định tại Điều 57 BLHS năm 1999 rõ ràng và phù hợp hơn so với việc sửa đổi tại Điều 63 BLHS năm 2015.

Tám là: Quy định không rõ ràng và chưa đầy đủ  tại khoản 3 Điều 63 trong trường hợp phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, trong đó có bản án xử phạt tù chung thân. Vấn đề này chúng tôi đã nêu tại mục 9.3 điểm 9 phần I của bài viết này.

Chín là: Sử dụng thuật ngữ pháp lý không thống nhất trong một số điều luật. Ví dụ: Điều 66 Tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định:

“1. Người đang chấp hành án phạt tù”. Các điều luật khác như Điều 63, Điều 67, Điều 68 đều sử dụng thuật ngữ “ người đang chấp hành hình phạt” hoặc “ thời hạn chấp hành hình phạt” hoặc “ hoãn chấp hành hình phạt”. Chúng tôi cho rằng phải sử dụng thuật ngữ  “chấp hành hình phạt” mới chính xác.

- Ngay trong Điều 103 việc sử dụng thuật ngữ đã không thống nhất giữa các khoản trong điều luật này. Khoản 2 của điều luật này viết là “nếu mức hình phạt đã tuyên…”, khoản 3 của điều luật này viết là “nếu mức hình phạt Tòa án tuyên…”

- Khoản 1 Điều 4  quy định “cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác…” . Trong tất cả các quy định của Phần thứ nhất chỉ sử dụng “ Viện kiểm sát”, “Tòa án” mà không có chữ “nhân dân”.

- BLHS năm 2015 thống nhất sử dụng số thay cho chữ , ví dụ 01 năm, 01 tháng, 01 ngày, 01 lần nhưng việc sử dụng này cũng không thống nhất. Ví dụ: Khoản 4 Điều 36 vẫn viết là “một ngày”; khoản 1 Điều 54 vẫn viết là “ hai tình tiết”. Trong khi đó các điều luật khác, chẳng hạn như khoản 1 Điều 38 viết là “ cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù”.

Mười là: Thiếu từ trong điều luật

Ví dụ: Điều 71 thiếu chữ “của” trong câu “ thời gian thử thách án treo”. Lẽ ra phải viết đầy đủ và đúng là “ thời gian thử thách của án treo” vì trong BLHS không phải chỉ có án treo mới có thời gian thử thách mà quy định này còn có trong tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Mười một là: BLHS thống nhất sử dụng dấu phẩy trước các liên từ “ Thì” hoặc “ Nhưng” để bảo đảm rõ ràng trong câu. Tuy nhiên việc áp dụng còn sai sót, không dùng dấu phẩy ở : Khoản 1 Điều 14; Điều 25; Điều 26; điểm a Khoản 2 Điều 29 ( dấu phẩy trước chữ xét xử); Khoản 2 Điều 54, Khoản  3 Điều 57; Khoản 5 Điều 62; Khoản 3,5,6 Điều 63; Khoản 4và 5 Điều 66 ; đoạn cuối khoản 2 và khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều 71; khoản 2 và 3 Điều 73; điểm b khoản 3 Điều 103; khoản 2 Điều 107.

Mười hai là: Khoản 2 Điều 12 quy định “ Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi” cũng là không thống nhất với một số điều luật khác khi các điều luật đó sử dụng các cụm từ “ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Ví dụ khoản 3 Điều 14; khoản 2 Điều 91; điểm b khoản 1 Điều 95; khoản 2 Điều 101; khoản 1 và 2 Điều 103; điểm a khoản 1 Điều 107).

Mười ba là: Khoản 2 Điều 12 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…”. Theo quy định này thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, bất kể là phạm tội ở Khoản nào của điều luật này (Điều 134). Chúng tôi cho rằng quy định này là quá nghiêm khắc đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi họ chỉ phạm tội này ở Khoản 1, 2 và 3 là các tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng. Mặc dù điểm b Khoản 2 Điều 91 cho phép có thể miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp được quy định tại Mục 2 Chương XII nếu họ chỉ phạm tội ở Khoản 1, 2 và Khoản 3 Điều 134, chỉ không được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương XII nếu phạm tội ở các khoản 4, 5 và 6 Điều 134, nhưng điều này cũng không làm giảm bớt nặng nề, quá khắt khe của chính sách hình sự đối với trẻ em ở lứa tuổi còn quá non nớt này.

Mười bốn là: Quy định tại Mục 2 Chương XII “Các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự “thực chất là các quy định cụ thể hơn của Khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999, nhưng lại theo hướng nghiêm khắc hơn bởi các quy định về nghĩa vụ trong các biện pháp được áp dụng. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các Tòa án rất ít, thậm chí là không mạnh dạn áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi quy định tại Điều 69 và 70 BLHS năm 1999. Các quy định mới, rộng mở về phạm vi áp dụng liệu có khả thi trong thực tiễn nếu như các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thay đổi nhận thức và chưa mạnh dạn áp dụng?

Mười lăm là: Khoản 2 Điều 107 xóa án tích quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.

Quy định này chỉ có lợi trong trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, ngược lại thì người ở độ tuổi này phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý lại bất lợi so với quy định tại Điều 64 BLHS năm 1999 và so với quy định tại Khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được đương nhiên xóa án tích nếu bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng cũng phải bảo đảm thời hạn 03 năm như quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 70 “c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm”. Như vậy, quy định tại Khoản 2 Điều 107 rõ ràng là không thể hiện được chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị kết án.

2/ Những hạn chế, sai sót trong Phần thứ hai “Các tội phạm”

Ngoài những hạn chế, sai sót chúng tôi đã nêu trong một số quy định của bài viết như: Điều 337 Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước, tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước; Tội giả mạo trong công tác (Điều 359); Cách thiết kế Khoản 4 trong Mục 1 Các tội xâm phạm an toàn giao thông của Chương XXI Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng hoặc Khoản 4 Điều 295 Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người; Khoản 4 Điều 298 tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng; Khoản 4 Điều 360 tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, một số bất cập trong quy định tại Điều 391, về giám định hàm lượng ma túy là chất rắn… Chúng tôi xin nêu một số hạn chế, sai sót sau đây:

Một là: Các tình tiết có tính chất định tính, định lượng về cơ bản đã được quy định cụ thể, lượng hóa, trừ Chương XXV Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, nhưng một số tội danh được thay bằng quy định cũng mang tính định tính khác như “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Đây là một tình tiết cần được hướng dẫn, giải thích vì luật thay đổi từ tình tiết định tính trừu tượng này bằng một tình tiết định tính trừu tượng khác.

Hai là: Điểm a Khoản 2 Điều 376 “Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù trốn” quy định “a) Làm vụ án bị đình chỉ”.

Theo chúng tôi quy định này không chính xác vì những lý do sau đây:

Theo quy định tại Điều 164, Điều 169, Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và quy định tại Điều 230, Điều 248, Điều 282, Khoản 2 Điều 155, các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đều không có quy định trường hợp người phạm tội bỏ trốn thì đình chỉ vụ án hay đây không phải là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ vụ án.

Hai là: Trường hợp người phạm tội trốn khi chưa xét xử thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ, yêu cầu cơ quan điều tra truy nã. Nếu truy nã có kết quả thì Tòa án xét xử theo thủ tục bình thường, nếu truy nã không có kết quả thì Tòa án xét xử vắng mặt. Trường hợp đang chấp hành hình phạt mà trốn thì cơ quan Công an ra quyết định truy nã. Không bao giờ được ra quyết định đình chỉ vụ án đối với các trường hợp này.

Ba là: Việc sử dụng từ ngữ không thống nhất trong một số điều luật hoặc ngay trong cùng điều luật.

Ví dụ: Điều 368. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội tên của tội phạm là “Người không có tội”, cấu thành cơ bản của tội này cũng là “biết rõ là không có tội”, nhưng trong cấu thành tăng nặng lại dùng là “Dẫn đến kết án oan người vô tội”.

Cụm từ “người vô tội” còn được sử dụng trong một số tội danh khác như Tội ra bản án trái pháp luật. Chúng tôi cho rằng dùng từ “Không có tội” là chính xác và đúng với ngôn ngữ Việt Nam, “Vô tội” là một từ Hán Việt và không nên sử dụng trong văn bản pháp luật.

Hoặc trong cấu thành cơ bản của hầu hết các điều luật đều sử dụng từ “thực hiện hành vi” hoặc “thực hiện một trong những hành vi sau đây”. Tuy nhiên vẫn còn một số tội “quên” không sửa nên vẫn dùng là “có một trong những hành vi sau đây” hoặc “có hành vi sau đây” (Điều 117, Điều 146)

Bốn là: thiếu từ ngữ trong một số điều luật

Ví dụ thiếu chữ “Nhiễm” trong “bị HIV” (Khoản 1 Điều 148)

- Thiếu chữ “cho” và chữ “của” trong điểm g Khoản 2 Điều 153.

- Thiếu chữ “vào” trong câu “Lâm tình trạng nguy hiểm…” Điều 186.

- Thiếu chữ “gây thương tích” tại điểm b Khoản 2 Điều 199 và điểm b Khoản 3 Điều 199.

- Thiếu chữ “có khối lượng” trong điểm a và điểm b Khoản 1 Điều 239.

- Thiếu chữ “từ” trong điểm b Khoản 2 Điều 368.

- Thiếu chữ “của” trong Khoản 1 Điều 391 “danh dự, nhân phẩm thành viên Hội đồng xét xử”. Đúng ra là “của thành viên Hội đồng xét xử”.

Năm là: thiếu dấu phẩy (,) trong một số quy định

- Khoản 1 Điều 172 thiếu dấu phẩy trước chữ “nhưng”.

- Điểm b Khoản 2 Điều 199 thiếu dấu phẩy sau chữ “trở lên”; điểm b Khoản 3 Điều này cũng thiếu dấu phẩy sau chữ “trở lên”.

- Thiếu dấu phẩy trước chữ “thì” trong Khoản 1 Điều 391.

Sáu là: thừa chữ hoặc thừa dấu phẩy.

- Thừa chữ “từ” trong điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm a Khoản 4 Điều 359; điểm a Khoản 1 Điều 360.

- Thừa dấu phẩy tại điểm a Khoản 2 Điều 137.

- Bảy là: tình tiết “phạm tội với nhiều người” hoặc “nhiều người phạm tội” được quy định cụ thể và thống nhất trong các điều luật là 02 người trở lên, 02 người đến 05 người… Tuy nhiên điểm a Khoản 2 Điều 143; điểm a Khoản 3 Điều 144 vẫn quy định là “nhiều người cưỡng dâm một người” mà không quy định thống nhất là 02 người trở lên cưỡng dâm một người.

Tám là: Một số tội phạm vi phạm quy định của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, quản lý hành chính, quản lý về an toàn công cộng, trật tự công cộng… có tội thì quy định là “Tội vi phạm quy định…” có tội quy định là “tội vi phạm các quy định”. Đây cũng là quy định thiếu nhất quán của BLHS. Các quy định của Nhà nước trong từng lĩnh vực bao gồm nhiều quy định cụ thể chứ không phải chỉ có một quy định. Nếu điều luật quy định “vi phạm các quy định” thì dễ bị hiểu là tội phạm cấu thành khi vi phạm nhiều quy định vì các cũng là số nhiều. Thực tiễn thì người phạm tội chỉ vi phạm một trong các quy định của Nhà nước đã cấu thành tội phạm trong lĩnh vực đó rồi. Do đó, chúng tôi cho rằng không nên dùng từ “các quy định” vì không thật chính xác.

Chín là: Một số điều luật quy định tội phạm về ma túy có một số sai sót đáng kể sau: Tình tiết định khung tăng nặng quy định tại các khung tăng nặng khác nhau lại quy định như nhau.

Ví dụ: điểm h khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 249 tội tàng trữ trái phép chất ma túy đều quy định là: “lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cô ca có khối lượng từ 25 ki lô gam đến 75 ki lô gam” hoặc điểm d khoản 1 và điểm i khoản 2 Điều 250 Tội vận chuyển trái phép chất ma túy đều quy định là: “Lá,  rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cô ca có khối lượng từ 10 ki lô gam đến 25 ki lô gam”. Hoặc điểm d khoản 1 và điểm h khoản 2 Điều 252 Tội chiếm đoạt chất ma túy đều có quy định là: “Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cô ca có khối lượng từ 10 ki lô gam đến 25 ki lô gam”.

Những sai sót này có thể do lỗi kỹ thuật khi làm luật, đồng thời do lỗi rà soát, nhưng buộc phải có đính chính mới có thể áp dụng được trong xử lý tội phạm.

 

Nguyễn Quang Lộc - Thành viên Tổ chuyên gia xây dựng BLHS năm 2015

Văn bản mới

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.39363528 - Fax : 04.39393335.
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao