Một số sửa đổi, bổ sung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Phần III)

6

6. Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án

6.1 Chương XXIII. Bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành (theo chúng tôi tên của Chương này phải là Bản án, quyết định của Tòa án…)

6.1.1. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay (Điều 363)

Trường hợp bị  cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ  thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt không phải là hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, phạt tù nhưng thời gian đã tạm giam ngắn hơn hoặc bằng mức phạt tù thì bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Hình phạt cảnh cáo  được thi hành ngay tại phiên tòa.

6.1.2. Thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án (Điều 364) 

Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết  định thi hành án hình sự hoặc ủy quyền cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án hình sự. Lẽ ra luật phải thêm chữ “hình sự” vì việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về trách nhiệm dân sự, các vấn đề khác về dân sự trong bản án hình sự không thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án mà thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự.

Khoản 2 của Điều này quy định:

“2. Thời hạn ra quyết định thi hành án là 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành án của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án.”

Bản án, quyết  định của Tòa án được đưa ra thi hành không chỉ có các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này mà còn cả những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị (Điều 343 BLTTHS năm 2015). Do đó, Khoản 2 Điều luật này đã bỏ sót khi không quy định vấn đề này.

Ví dụ: Bản  án sơ thẩm xét xử 04 bị cáo, chỉ có  01 bị cáo kháng án, 03 bị cáo không kháng án, không bị kháng cáo, kháng nghị. Hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, phần bản án đối với 03 bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị này có hiệu lực pháp luật. Chánh án Tòa án xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hình sự đối với 03 bị cáo này (trừ trường hợp bản án phạt cảnh cáo với họ).

Không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án đều phải đưa ra quyết định thi hành án hình sự. Nếu nói là 100% bản án, quyết định của Tòa án phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn luật định (07 ngày) là không đúng vì có bản án quyết định không phải ra quyết định thi hành án hình sự.  Chẳng hạn bản án tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, cảnh cáo.

6.1.3. Giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án (Điều 365)

Khi có yêu cầu của Cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án hình sự, Viện Kiểm sát, người bị kết án, bị  hại, đương sự liên quan đến việc thi hành án về  việc giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án để thi hành án thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định có trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định. Nếu Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì Chánh án Tòa án đã ra bản án thực hiện việc giải thích, sửa chữa.

Đây là những yêu cầu giải thích, sửa chữa sai sót để làm rõ hơn bản án, quyết định của Tòa án để thi hành. Nếu đó lại là kiến nghị về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền phải xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và phải trả lời cho Cơ quan thi hành án trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn này là 120 ngày (Điều 366)

Các khiếu nại của người bị kết án, đương sự trong vụ án về  bản án quyết định của Tòa án được xem xét, giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.

6.2. Chương XXIV. Một số thủ tục về thi hành án tử  hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích

6.2.1. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành (Điều 367)

Thi hành hình phạt tử  hình là việc trực tiếp tước đoạt quyền được sống của con người, là một quy định rất đặc biệt của pháp luật hình sự Việt Nam. Vì rất đặc biệt, rất quan trọng nên thủ tục xem xét lại bản án tử hình trước khi thi hành phải đảm bảo rất chặt chẽ, thận trọng vì nếu sai, bản án đã được thi hành thì không còn bất cứ cơ hội nào để sửa chữa sai lầm. Về cơ bản, Điều 367 của BLTTHS năm 2015 kế thừa quy định của Điều 258 BLTTHS năm 2003, nhưng có sửa đổi, bổ sung một số điểm sau đây:

Một là: Điều luật được thiết kế lại để thể hiện rõ ràng hơn về thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành.

Hai là: Bổ sung quy định TANDTC phải chuyển hồ sơ vụ án cho VKSNDTC để nghiên cứu, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, VKSNDTC phải trả lại hồ sơ vụ án cho TANDTC.

Ba là: Bổ sung quy định tại Khoản 2 “Khi có căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 40 của BLHS thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án TANDTC để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án”.

6.2.2. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 368)

Tha tù trước thời hạn là một quy định mới của BLHS năm 2015, vừa thể  hiện chính sách hình sự của nhà nước, vừa thể  hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời cũng nhằm giảm bớt áp lực của các trại giam, cơ sở giam giữ. Tuy nhiên, việc thực hiện chế định này phải đảm bảo chặt chẽ cả về nội dung và hình thức. Các nội dung, điều kiện cụ thể của chế định này được quy định tại Điều 66 của BLHS năm 2015; các trình tự, thủ tục để thực hiện chế định này được quy định cụ thể, chặt chẽ tại Điều này.

Điều luật cấu trúc thành 11 Khoản rất chi tiết, cụ thể trong 05 trang. Trong đó quy định tại Khoản 10 về việc xử lý đối với trường hợp người được tha tù trước thời hạn vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc tội xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách thì Tòa án có thể xét, hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù chưa chấp hành (tức là phần hình phạt tù đã được tha trước thời hạn). Quyết định tha tù trước thời hạn, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn, quyết định không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn của Tòa án có thể bị VKS kháng nghị và có thể bị người được xét tha tù khiếu nại.

6.2.3. Thủ tục xóa án tích (Điều 369)

Theo quy định của  Điều 70 BLHS thì Tòa án không thực hiện việc xem xét, cấp giấy chứng nhận xóa án tích đối với các trường hợp đương nhiên xóa án tích, mà  việc xác định không có án tích do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu tư pháp thực hiện khi có yêu cầu của người đương nhiên được xóa án tích bằng Phiếu lý lịch tư pháp Tòa án chỉ thực hiện việc xem xét, quyết định xóa án tích đối với trường hợp quy định tại Điều 71 BLHS. “Xóa án tích theo quyết định của Tòa án” và quy định tại Điểu 72 BLHS “Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt”. Những trường hợp này, người bị kết án phải có đơn, đơn này phải có nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan tổ chức nơi người bị kết án làm việc, học tập và gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án để xem xét, quyết định.

7. Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Phần thứ sáu của BLTTHS năm 2015 được thiết kế thành 03 Chương, gồm 43 điều, từ Điều 370 đến Điều 412.

7.1. Chương XXV. Thủ tục giám đốc thẩm

7.1.1. Tính chất của giám đốc thẩm (Điều 370)

Giám đốc thẩm là  xét lại bản án, quyết định của Tòa án  đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

7.1.2. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (Điều 371)

Bản án quyết  định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chỉ bị kháng nghị theo thủ tục giám  đốc thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây:

+ Kết luận trong bản  án, quyết định của Tòa án không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Như vậy, nếu bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng vẫn bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật, không dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án thì cũng không cần thiết phải kháng nghị.

7.1.3. Thẩm quyền giám đốc thẩm (Điều 382)

Để phù hợp với Luật tổ chức TAND năm 2014, BLTTHS quy định Hội đồng Thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương bị kháng nghị; Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi lãnh thổ mà TAND cấp cao có thẩm quyền; Tòa án quân sự Trung ương giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.

Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm cũng được sửa đổi để phù hợp với quy định về thẩm quyền.

- Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm của Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp cao gồm 03 Thẩm phán, trường hợp vụ án phức tạp hoặc không có sự thống nhất về quan điểm của các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm 03 Thẩm phán thì vụ án được xét xử bằng Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán với ít nhất là 2/3 tổng số thành viên Uỷ ban thẩm phán và do Chánh án TAND cấp cao làm chủ tọa phiên tòa.

- Uỷ ban Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương xét xử giám đốc thẩm khi có ít nhất là 2/3 thành viên của Uỷ ban Thẩm phán tham gia và do Chánh án Tòa án quân sự Trung ương làm chủ tọa phiên tòa (tức là xét xử bằng Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán).

- Hội đồng Thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán. Trường hợp vụ án có tính chất phức tạp hoặc đã được Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán xét xử nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án thì vụ án được xét xử bằng Hội đồng toàn thể Thẩm phán TANDTC với ít nhất là 2/3 tổng số thành viên và do Chánh án TANDTC làm chủ tọa phiên tòa.

7.1.4. Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm (Điều 383)

Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Kiểm sát viên cùng cấp. Khi có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành. Các trường hợp khác, nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án mới triệu tập những người nêu trên tham gia phiên tòa giám đốc thẩm.

Đây là một quy định mới, đặc biệt là trong trường hợp sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, tức là đã có một phiên tòa được mở với sự bắt buộc Tòa án phải triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên tòa. Phải chăng đây chính là cấp xét xử thứ ba? Một cấp xét xử không quy định trong Hiến pháp.

7.1.5. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm (Điều 388).

So với quy định của  Điều 285 BLTTHS năm 2003, thì điều luật này có  hai bổ sung:

- Bổ sung thẩm quyền “đình chỉ xét xử giám đốc thẩm” (Khoản 6). Việc bổ sung thẩm quyền này để giải quyết những trường hợp người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm rút quyết định kháng nghị theo quy định tại Khoản 3 của Điều 381 Bộ luật này và để giải quyết vướng mắc trong thực tiễn khi rút quyết định kháng nghị thì BLTTHS năm 2003 không có quy định này, Tòa án cũng không ra quyết định gì và mặc nhiên được coi là không còn thủ tục giám đốc thẩm.

Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 lại không có quy định việc rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa giám đốc thẩm thì quyết  định rút một phần hay toàn bộ kháng nghị phải được gửi theo quy định tại Khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này. Chúng tôi cho rằng đó cũng là một thiếu sót của BLTTHS vì người bị kết án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự, những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị được biết về quyết định thay đổi, bổ sung kháng nghị của người kháng nghị thì họ đương nhiên phải được nhận quyết định rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị.

- Bổ sung thẩm quyền “Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật” (Khoản 5 Điều này).

Đây là một quy định mới và tuy luật đã quy định nhưng vẫn còn nhiều ý kiến không đồng tình với quy định này về tính hợp Hiến của quy định,

Chúng tôi cho rằng đây là một quy định khiên cưỡng, không phù hợp vì:

Một là: Mặc dù Hiến pháp năm 2013 quy định “xét xử sơ thẩm và phúc thẩm được đảm bảo” nhưng bản chất của quy định này vẫn là nguyên tắc bảo đảm hai cấp xét xử. Nếu có cấp xét xử thứ ba thì Hiến pháp đã có quy định là xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được bảo đảm.

Hai là: Theo quy định tại Điều 370 thì giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Vụ án bị sửa hoàn toàn không phải là vụ án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng nên không phải là đối tượng thuộc phạm vi của giám đốc thẩm. Chính vì muốn có quy định tăng thẩm quyền cho Hội đồng giám đốc thẩm nên Điều 371 bổ sung thêm căn cứ kháng nghị là “Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án”, bởi nếu không phù hợp thì sẽ có sai lầm, sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật thì bản án, quyết định đó phải hủy chứ không thể là sửa.

Ba là: Trong trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật tức là không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị mà Hội đồng giám đốc thẩm quyết định sửa bản án, quyết định đó thì vô hình chung đã tước đi quyền kháng cáo, quyền kháng nghị của những người tham gia tố tụng và của VKSvì quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực ngay.

Bốn là: Khoản 2 Điều 393 quy định:

“2. Việc sửa bản án, quyết định không làm thay đổi bản chất của vụ  án, không làm xấu đi tình trạng của người bị kết án, không gây bất lợi cho bị hại, đương sự.”

Quy định này có  nghĩa là Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm chỉ sửa bản án quyết định khi có lợi cho bị cáo như: sửa tội danh nhẹ hơn, giảm hình phạt chính, giảm hình phạt bổ sung; sửa về việc áp dụng các biện pháp tư pháp như tịch thu vật, tiền mà Tòa án cấp Giám đốc thẩm có căn cứ cho rằng vật, tiền đó không trực tiếp liên quan đến vụ án…

Hội đồng xét xử  giám đốc thẩm không được tăng hình phạt, kể  cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung, áp dụng thêm biện pháp tư pháp hoặc áp dụng thêm hình phạt bổ sung, không được sửa về biện pháp chấp hành hình phạt (không cho hưởng án treo), không được sửa về tăng án phí hình sự, dân sự sơ thẩm…

Việc sửa bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không gây bất lợi cho bị hại, đương sự. Suy cho cùng thì nếu Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định theo hướng giảm hình phạt chính, giữ nguyên hình phạt nhưng cho hưởng án treo, áp dụng các hình phạt khác không phải là hình phạt tù hoặc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo thì đều gây bất lợi cho bị hại, đương sự. Như vậy, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ có thể sửa bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với những sai lầm của bản án, quyết định này về áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, sửa giảm về án phí hình sự, án phí dân sự nếu án phí đó bất lợi cho bị cáo. Cũng theo quy định của Điều 371 thì tuy bản án, quyết định có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng vẫn bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật thì cũng không cần thiết phải kháng nghị, những trường hợp chỉ sửa bản án, quyết định vì có sai như trên có cần thiết phải kháng nghị hay không? Nếu thực hiện đúng quy định của Khoản 2 Điều này thì rất ít bản án, quyết định bị kháng nghị để sửa, tức là tính khả thi của điều luật không cao.

7.2. Chương XXVII: Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Đây là không phải là thủ tục đặc biệt vì Chương này không nằm trong Phần thứ bảy Thủ tục đặc biệt của Bộ luật này. Chương XXVII là một Chương mới được bổ sung vào BLTTHS và cũng tạo ra rất nhiều ý kiến trái chiều về tính hợp Hiến và hợp pháp của Chương này. Chúng tôi cho rằng:

Một là: Khoản 1 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định “TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam”

Khoản 4 Điều 22 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định:

“4. Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị”.

Như vậy, BLTTHS quy định một Chương về thủ tục xem xét lại quyết  định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là trái Hiến pháp, không phù hợp với quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014.

Hai là: Quy định khi có đề nghị của Chánh án TANDTC về việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, thường chỉ đúng và có thể xảy ra đối với các quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC các nhiệm kỳ trước đó mà Chánh án TANDTC đương nhiệm không phải là Chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án đó.

Ba là: Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, đặc biệt là quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán TANDTC là quyết định cao nhất, có thể được coi là đúng nhất, trí tuệ nhất, mẫu mực nhất; có thể được xem như là án lệ mà còn bị xem xét lại, bị hủy thì các Thẩm phán Tòa án cấp dưới và người dân không biết tin vào đâu nữa. Giả sử một Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC được lựa chọn là án lệ mà bị hủy thì tất cả các bản án, quyết định áp dụng Quyết định đó của Hội đồng Thẩm phán TANDTC cũng sẽ bị hủy theo và việc áp dụng án lệ cũng luôn đứng trước nguy cơ bị hủy vì không ổn định.

8. Phần thứ bảy: Thủ tục tố tụng đặc biệt

8.1. Thủ  tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi

8.1.2. Phạm vi áp dụng (Điều 413)

Phạm vi áp dụng của thủ tục tố tụng không chỉ được áp dụng đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi mà còn được mở rộng đối với người bị  hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi trên cơ sở pháp điển hóa Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 12/7/2011 của VKSNDTC, TANDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, đồng thời nội luật hóa Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên.

8.1.3. Nguyên tắc tiến hành tố tụng (Điều 414)

Điều luật quy định cụ thể 07 nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với các vụ án có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng.

- Người tiến hành tố tụng (Điều 415)

Điều luật quy định về điều kiện và yêu cầu đối với người tiến hành tố tụng phải là người “đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi.” nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong tố tụng hình sự.

- Xác  định tuổi của người bị buộc tội, người bị  hại là người dưới 18 tuổi (Điều 417)

Tuổi của người bị  buộc tội có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc xác định tội trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 12, Điều 14 BLHS năm 2015.

Tuổi của người bị  hại cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định tội danh, đặc biệt là các tội xâm phạm tình dục, tội mua bán người dưới 16 tuổi, tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi… hoặc là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt phạm tội với người dưới 16 tuổi, phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (điểm c Khoản 3 Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi).

Vì vậy, BLTTHS bổ sung Điều này để quy định cụ thể cách xác định tuổi của người dưới 18 tuổi là người bị buộc tội, người bị hại trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác tuổi của họ. Điều luật này pháp điển hóa quy định của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 12/7/2011 của VKSNDTC – TANDTC – BCA – BTP – BLĐTBXH hướng dẫn về thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên nhưng quy định chung về cách xác định tuổi của cả người bị buộc tội và người bị hại là người dưới 18 tuổi.

+ Nếu xác định được tháng nhưng không xác định được ngày tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh

+ Nếu xác định được quý nhưng không xác định được ngày tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày tháng sinh.

+ Nếu xác định được nửa năm nhưng không xác định được ngày tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày tháng sinh.

+ Nếu không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

- Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị giam giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can, đối chất (Điều 421)

Điều luật quy định chặt chẽ về thủ tục tiến hành lấy lời khai, hỏi cung, đối chất đối với người dưới 18 tuổi. Việc tiến hành các thủ tục này phải đảm bảo thông báo trước cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung người dưới 18 tuổi nhằm đảm bảo sự có mặt của họ trong việc tiến hành lấy lời khai, hỏi cung. Nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý, người bào chữa, người đại diện có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung kết thúc thì người bào chữa, người đại diện có thể hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ và bị can mà không cần phải có sự đồng ý của người có thẩm quyền lấy lời khai, hỏi cung.

Thời gian lấy lời khai người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp. Thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi không quá 02 lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ các trường hợp phạm tội có tổ chức; để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn; ngăn chặn người khác phạm tội; để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng của vụ án; vụ án có nhiều tình tiết phức tạp.

Việc tiến hành đối chất giữa người bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo để làm sáng tỏ  tình tiết của vụ án chỉ được thực hiện trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án.

- Bào chữa (Điều 422)

Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự  bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Người đại diện của họ có quyền bào chữa cho gười dưới 18 tuổi bị buộc tội hoặc lựa chọn người bào chữa cho người dưới 18 tuổi.

Nếu không có người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

- Xét xử (Điều 423)

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi. Nếu xét thấy cần bảo vệ bị cáo, người bị hại là người dưới 18 tuổi thì Tòa án có thể quyết định xét xử kín.

Phiên tòa xét xử  bị cáo là người dưới 18 tuổi phải có mặt người đại diện của bị cáo, đại diện nhà trường, tổ chức nơi bị cáo học tập, sinh hoạt, trừ trường hợp không vì lý do bất khả kháng hoặc không vì lý do khách quan (tức là những người này cố tình vắng mặt tại phiên tòa).

Việc xét xử vụ án có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng phải chú ý đến việc bảo đảm sự thân thiện, không được tạo ra áp lực đối với họ. Nếu xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Theo quy định của Luật tổ chức TAND thì Tòa gia đình và người chưa thành niên sẽ được thành lập trong hệ thống Tòa án. Việc xét xử vụ án có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng sẽ do Tòa án này giải quyết. Chánh án TANDTC quy định chi tiết về vấn đề này.

Một số lưu ý:

+ Thành phần Hội  đồng xét xử sơ thẩm vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi ngoài Hội thẩm là giáo viên, Đoàn thanh niên, Luật bổ  sung người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi. Những người này có thể là  những người tham gia các hoạt động xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em. Khi trong Hội đồng xét xử có sự tham gia của họ thì trong phần đầu án phải ghi rõ vì đây là vấn để rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm thủ tục tố tụng hình sự, nếu không ghi đầy đủ có thể vụ án sẽ bị hủy vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Quy định mới này cũng sẽ đặt ra vấn đề lựa chọn để bầu các Hội thẩm trong nhiệm kỳ hội thẩm mới sẽ được thực hiện vào khoảng nửa cuối của năm 2016.

+ Mặc dù điều luật này không quy định sự có mặt của người bào chữa cho bị cáo là bắt buộc, nhưng căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 291 “Sự có mặt của người bào chữa thì trường hợp chỉ định người bào chữa mà họ vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Theo quy định này thì chỉ cần bị cáo hoặc người đại diện của họ đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. Quy định này không phù hợp và sẽ vướng mắc khi một trong hai người (bị cáo hoặc người đại diện của họ) không đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa, Tòa án có tiến hành xét xử hay phải hoãn xử. Nếu theo quy định thì Tòa án vẫn xét xử nhưng sẽ không bảo đảm quyền nhờ người bào chữa của người không đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa của họ hoặc của người mà họ là người đại diện. TANDTC đã có hướng dẫn là chỉ được xét xử vắng mặt người bào chữa khi cả bị cáo và người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.

- Thẩm quyền áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 426)

BLHS năm 2015 có quy định mới về các biện pháp giám sát, giáo dục  áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (Mục 2 Chương XII). Đó là các biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án đều có thẩm quyền áp dụng các biện pháp này.

Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS và Hội đồng xét xử có quyền áp dụng các biện pháp này.

BLTTHS năm 2015 cũng đã quy định cụ thể, chi tiết và trình tự, thủ  tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 427, 428, 429 của Bộ  luật này).

Riêng đối với biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng phải do Hội đồng xét xử quyết định khi xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt. (Điều 430).

8.2. Chương XXIX Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

BLHS năm 2015 đã có  quy định mới về xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm một trong các tội quy định tại Điều 76 BLHS. BLTTHS năm 2015 cũng đã bổ sung Chương này để quy định về trình tự, thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (đúng và chính xác phải là pháp nhân thương mại) bao gồm các quy định về khởi tố vụ án, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều 432); Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân (Điều 433); người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng (Điều 434); quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Điều 435); biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân (Kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động, buộc nộp một khoản tiền để đảm bảo thi hành án). Chương này còn có các quy định về triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo, thẩm quyền thủ tục thi hành án, đương nhiên xóa án tích…

8.2.1. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội (Điều 441)

“1. Có hành vi phạm tội xảy ra không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của Bộ luật hình sự.

2. Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân.

3. Tính chất và mức  độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra.

4. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt.

5. Nguyên nhân và  điều kiện phạm tội.

8.2.2. Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân. (Điều 444).

“1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm”.

Việc xét xử sơ  thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm tội thực hiện theo thủ tục chung. Phiên tòa phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Kiểm sát viên VKScùng cấp, bị hại hoặc đại diện của bị hại.

8.3. Chương XXX. Thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

BLTTHS năm 2015 kế thừa quy định về bắt buộc chữa bệnh của BLTTHS năm 2003, nhưng quy định rất chặt chẽ, chi tiết, cụ thể về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp này trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Quy định rõ điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh căn cứ vào kết luận giám định pháp VKS tâm thần mà các cơ quan tiến hành tố tụng đã trưng cầu giám định. Quy định về việc đề nghị, ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can, bị cáo, người đang chấp hành hình phạt tù khi có dấu hiệu họ không có năng lực trách nhiệm hình sự trong từng giai đoạn tố tụng. Quy định về việc giải quyết khiếu nại quyết định của VKS về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Quyết định của Tòa án về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh có thể bị kháng cáo, kháng nghị và việc giải quyết được thực hiện như đối với các quyết định sơ thẩm khác như bị kháng cáo, kháng nghị.

Khi có thông báo của Thủ trưởng cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần về việc người đó đã khỏi bệnh thì cơ quan tiến hành tố tụng đã đề nghị áp dụng hoặc Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp này trưng cầu giám định pháp VKS tâm thần về tình trạng bệnh của người bị bắt buộc chữa bệnh. Căn cứ vào kết quả giám định pháp VKS tâm thần, nếu họ đã khỏi bệnh thì các cơ quan này ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh và các hoạt động tố tụng, việc chấp hành hình phạt đã bị tạm đình chỉ có thể được phục hồi theo quy định của BLTTHS.

8.4. Chương XXXI. Thủ tục rút gọn

BLTTHS năm 2015 có  rất nhiều sửa đổi, bổ sung về thủ  tục rút gọn nhằm phù hợp với tính chất của thủ  tục đặc biệt này và đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án.

Một là: Mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn đối với cả giai đoạn xét xử phúc thẩm chứ không chỉ trong phạm vi điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm.

Tuy nhiên, thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm chỉ  được áp dụng khi có một trong các điều kiện là:

- Vụ án đã được áp dụng theo thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

- Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 456 BLTTHS và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

Hai là: Giản lược thủ tục tố tụng trong xét xử. Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được thay bằng do một Thẩm phán tiến hành xét xử; các thời hạn tố tụng đều được rút ngắn lại để bảo đảm giải quyết nhanh vụ án: thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày, thời hạn tạm giam không quá 20 ngày, thời hạn trong giai đoạn truy tố không quá 05 ngày, thời hạn xét xử sơ thẩm không quá 17 ngày, thời hạn xét xử phúc thẩm không quá 22 ngày.

Các thủ tục về  quyết định đề nghị truy tố, quyết định truy tố đều được đơn giản hóa đến mức chỉ ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra…(Khoản 2 Điều 460 và Khoản 2 Điều 461).

Ba là: Về thụ lý và xét xử sơ thẩm: trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử phải ra một trong các quyết định: đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ vụ án.

Nếu ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.

Nếu ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết  định áp dụng thủ tục rút gọn.

Phiên tòa sơ thẩm do một Thẩm phán tiến hành. Các trình tự, thủ tục tại phiên tòa được thực hiện theo thủ tục chung, chỉ khác là Kiểm sát viên công bố quyết định truy tố và không có thủ tục nghị án.

Bốn là: Xét xử phúc thẩm. Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án phải chuyển ngay hồ sơ cho VKS cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày, VKS phải trả lại hồ sơ cho Tòa án. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử phải ra một trong các quyết định: đưa vụ án ra xét xử, đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Nếu ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa. Phiên tòa do một Thẩm phán tiến hành theo thủ tục chung nhưng không có thủ tục nghị án.

8.5. Chương XXXII: Xử lý các hành vi cản trở hoạt  động tố tụng

8.5.1. Xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều 466)

Điều luật quy định 12 hành vi của người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác có thể bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính, buộc khắc phục hậu quả hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự quy định của Luật.

8.5.2. Xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa (Điều 467).

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định xử phạt hành chính tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, có  quyền ra quyết định buộc người vi phạm rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính.

Trường hợp hành vi của người vi phạm nội quy phiên tòa đến mức bị  truy cứu trách nhiệm hình sự thì Hội đồng xét xử có quyền khởi tố vụ án hình sự.

Điều 391 BLHS năm 2015 quy định tội “gây rối trật tự phiên tòa” để xử lý các hành vi thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của thành viên Hội đồng xét xử, những người khác có mặt tại phiên tòa hoặc có hành vi đập phá tài sản tại phiên tòa. Các hành vi này vi phạm nghiêm trọng nội quy của phiên tòa (Điều 256 BLTTHS) và cần phải xử lý nghiêm minh theo Điều 391 BLHS.

Khoản 4 Điều này quy định “Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án”.

Như vậy, người có hành vi vi phạm về hành chính hoặc vi phạm nội quy của phiên họp của Tòa án đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì cũng bị xử lý như vi phạm ở phiên tòa, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “gây rối trật tự phiên tòa”.

8.6. Chương XXXIV. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác.

Đây là một Chương mới được quy định trong BLTTHS năm 2015 nhằm bảo vệ những người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại trước nguy cơ bị xâm hại hoặc bị xâm hại do họ tham gia tố tụng vụ án hình sự.

- Những người được bảo vệ gồm:

+ Người tố giác tội phạm;

+ Người làm chứng;

+ Bị hại;

+ Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại (người thân thích được giải thích theo điểm e Điều 4 của Bộ luật này)

- Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm:

+ Cơ quan điều tra của Công an nhân dân

+ Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân

Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng của các cơ quan điều tra nói trên có quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ.

TAND và VKSND các cấp, Tòa án quân sự và VKS quân sự các cấp nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ thì đề nghị bằng văn bản gửi các cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý vụ án hình sự ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.

- Các biện pháp bảo vệ gồm:

a) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;

b) Hạn chế việc  đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để  đảm bảo an toàn cho họ;

c) Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ;

d) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhận dạng của người được bảo vệ nếu được họ đồng ý;

đ) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật;

e) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.

III. Một số hạn chế và sai sót của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trong phần trình bày về các Phần, các Chương của BLTTHS năm 2015, chúng tôi đã nêu ý kiến về những vấn đề mà chúng tôi cho rằng có những hạn chế, sai sót trong quy định của các điều luật. Đó là các vấn đề nêu ở Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 62, Điều 63, Điều 78, Điều 85, Điều 244, Điều 246, Điều 254, Điều 260, Điều 279, Điều 280, Điều 285, Điều 325, Điều 326, Điều 330, Điều 339, Điều 348, Điều 357, Điều 364…

Ngoài các vấn đề nêu trên, còn có những vấn đề khác như sau:

Một là: điểm e khoản 1 Điều 4 “giải thích từ ngữ”

“4. Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định”.

Theo giải thích này thì  người bị hại chỉ có thể bị dẫn giải nếu họ từ chối giám định tức là từ chối triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và phù hợp quy định của điểm b Điều 127 “Áp giải, dẫn giải”

Khoản 4 Điều 62 quy định:

“4. Bị hại có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố  tụng, trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải”.

Theo quy định này thì  người bị hại không có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền mà không có lý  do chính đáng thì có thể bị dẫn giải, kể cả việc triệu tập để lấy lời khai, để nhận dạng, để đối chất hoặc các hoạt động tố tụng khác có liên quan đến họ.

Như vậy, quy định của hai điều luật này về trường hợp áp dụng biện pháp dẫn giải người bị hại đã khác nhau. Nếu phù hợp với quy định của điểm e Khoản 1 Điều 4 thì điểm a khoản 4 Điều 62 phải quy định là:

“a) Có mặt theo giấy triệu tập để giám định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải”.

Hai là: Về việc sử dụng thuật ngữ bị hại và người bị hại trong Bộ luật này không thống nhất. Chúng tôi hiểu rằng khi Bộ luật sử dụng thuật ngữ bị hại tức là bao gồm cả cá nhân và cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, còn khi sử dụng thuật ngữ người bị hại là chỉ có cá nhân bị thiệt hại. Tuy nhiên có không ít quy định lại sử dụng thuật ngữ bị hại khi họ là con người cụ thể. Ví dụ như:

- Khoản 1 Điều 155 “Khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi”, đúng ra phải là “người đại diện của người bị hại dưới 18 tuổi”.

- Khoản 4 Điều 320 “ trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày…” Trừ Điều 226 tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, còn lại các tội khác quy định trong khoản 1 Điều 155 BLTTHS là các tội xâm phạm đến con người (cá nhân). Đúng ra, điều luật phải quy định như sau: “Trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, người bị hại là người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện thì họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội”.

- Khoản 5 Điều 331, khoản 6 Điều 421, khoản 4 Điều 423 phải sử dụng là người bị hại mới đúng vì đó đều là người dưới 18 tuổi.

- Ngược lại, có quy định lại sử dụng thuật ngữ người bị hại không chính xác. Ví dụ tên Chương X “Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng”. Lấy lời khai của bị hại mới đúng vì trường hợp này có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nên Điều 188 của Chương này quy định: “Triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự.”

BLTTHS năm 2015 sửa từ  người bị hại thành bị hại trong khi BLHS năm 2015 vẫn sử dụng chung thuật ngữ người bị  hại. Phải chăng đó là sự thiếu nhất quán giữa luật hình thức và luật nội dung. Mặt khác, chính có sự gượng ép trong sửa đổi thuật ngữ này mà dẫn tới những sai sót trong sử dụng thuật ngữ như đã nêu trên.

Ba là: Theo quy định tại khoản 1 Điều 77 thì người bị buộc tội, người đại diện của người bị buộc tội, người thân thích của người bị buộc tội có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa. Theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 42 thì Kiểm sát viên cũng có quyền “yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa…”. Nếu đề nghị thay đổi người bào chữa của Kiểm sát viên không được những người quy định tại khoản 1 Điều 77 đồng ý thì giải quyết thế nào? Đó là vấn đề luật chưa quy định chặt chẽ.

Bốn là: Quy định tại khoản 2 Điều 189 “đối chất”, khoản 3 Điều 190 “nhận dạng”, khoản 3 điều 191 “nhận biết giọng nói” đều quy định Điều tra viên phải giải thích cho bị hại biết rõ trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối, việc này phải ghi vào biên bản. Vậy trách nhiệm của bị hại trong trường hợp này là gì? Điều tra viên phải giải thích như thế nào về trách nhiệm của bị hại? Chắc chắn không thể có trách nhiệm hình sự được vì theo quy định tại khoản 4 Điều 62 BLTTHS và Điều 383 BLHS thì người bị hại không phải là đối tượng phải chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi này. Có lẽ đây cũng là một sai sót khi quy định các điều luật này đã không chú ý việc sửa đổi của quy định khác trong cùng Bộ luật hoặc trong BLHS.

Năm là: Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự quy định:

“5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo…” Đây là một quy định mới nhằm nâng cao hiệu quả của chế định án treo. Người đã được Tòa án phạt tù nhưng cho hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ như quy định của điều luật này thì Tòa án nào quyết định buộc họ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Đây là một quyết định thay đổi bản án trước đó nhưng BLTTHS không có quy định cụ thể về vấn đề này. Chúng tôi cho rằng có lẽ Tòa án đã xét xử cho bị cáo hưởng án treo là Tòa án có thẩm quyền ra quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là suy đoán cá nhân mà không có căn cứ pháp luật bởi luật không quy định.

Sáu là: Điều 2 BLHS năm 2015 quy định “Cơ sở của trách nhiệm hình sự”. Khoản 2 Điều này quy định: “2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Trong toàn bộ các quy định của BLTTHS liên quan đến trình tự, thủ tục tố tụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội  đều chỉ quy định là pháp nhân. Rõ ràng đó là một sai sót nghiêm trọng vì không phải mọi pháp nhân đều bị xử lý trách nhiệm hình sự mà chỉ có pháp nhân thương mại. Chúng tôi cho rằng sai sót này cần phải được đính chính trong các quy định của Chương, của điều luật cụ thể hoặc có thể đính chính bằng cách bổ sung vào Điều 4 “giải thích từ ngữ” “pháp nhân quy định trong Bộ luật này là các pháp nhân thương mại”.

Bảy là: Một số sai sót khác như quy định tại khoản 1 Điều 254 “Thành phần Hội đồng xét xử”

“Đối với vụ  án có bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt…” Câu này thiếu hẳn một cụm từ “bị đưa ra xét xử” và nếu đúng phải là “Đối với vụ án có bị cáo bị đưa ra xét xử về tội mà…”

Những hạn chế, thiếu sót của BLTTHS năm 2015 mà chúng tôi nêu ra trong bài viết này với hy vọng sẽ được xem xét, sửa chữa hoặc có hướng dẫn, giải thích từ các cơ quan có thẩm quyền để BLTTHS được thi hành thuận lợi khi chính thức có hiệu lực pháp luật.

 

Nguyễn Quang Lộc – Nguyên Thẩm phán TAND tối cao

 

Văn bản mới

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.39363528 - Fax : 04.39393335.
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao