|
Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) được Quốc hội thông qua
ngày 13/11/2008 đã tạo một hành lang pháp lý thống nhất điều chỉnh
việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, đáp ứng được nhu cầu cấp
bách của hoạt động bảo tồn ĐDSH hiện nay và trong tương lai. Luật đã
hoàn thành nhiệm vụ pháp điển hóa các quy định về bảo vệ ĐDSH được
đề cập rải rác trong nhiều văn bản pháp lý, hỗ trợ và tạo thế cân
bằng với lĩnh vực pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường1.
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về ĐDSH hiện nay vẫn đang bộc lộ những
bất cập nhất định về mặt nội dung cũng như thực tế thi hành, nên
việc đánh giá toàn diện để hoàn thiện là vấn đề rất quan trọng.
1.
Đánh giá hệ thống pháp luật về bảo tồn ĐDSH hiện nay
1.1. Các quy định pháp luật về ĐDSH đã được pháp điển
hoá thành một lĩnh vực pháp lý cụ thể, thống
nhất trong một văn bản điều chỉnh chung - Luật ĐDSH năm 2008
Đây có
thể được xem là một bước tiến trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
pháp luật nói chung cũng như pháp luật môi trường nói riêng của Việt
Nam trong thời gian qua. Việc ban hành Luật ĐDSH năm 2008 đã thể
hiện sự nhận thức đúng đắn tầm quan trọng và sự cần thiết trong việc
điều chỉnh thực trạng bảo tồn ĐDSH hiện nay của nước ta. Một hành
lang pháp lý được xây dựng góp phần hệ thống hoá
các quy định rải rác trước đó cũng như bổ sung thêm những nội dung
mới nhằm điều chỉnh đầy đủ và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo tồn
ĐDSH - một trong những phương thức bảo vệ và phát triển tài nguyên
thiên nhiên (TNTN) của trái đất. Có thể nhận thấy, Luật ĐDSH đã quy
định những vấn đề chung nhất về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH,
còn các vấn đề mang tính đặc thù vẫn được quy định trong các luật
chuyên ngành (như Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật
Thuỷ sản,…). Điều này đã dẫn đến thực trạng là
một số vấn đề sẽ bị trùng lặp khiến cho việc áp dụng trong thực tế
sẽ khá khó khăn. Trong quá trình xây dựng Luật ĐDSH, các nhà làm
luật đã cố gắng xây dựng ranh giới rõ ràng giữa luật này với các
luật chuyên ngành hiện hành nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả như
mong muốn2. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là hệ thống
pháp luật ĐDSH đã được thống nhất trong một đạo luật có hiệu lực
pháp lý cao. Bởi vậy, hoạt động bảo tồn ĐDSH từ nay trở về sau sẽ
được điều chỉnh thông qua chủ yếu bằng Luật ĐDSH. Việc xây dựng được
một hành lang pháp lý riêng biệt về ĐDSH của Việt Nam như hiện nay
là một cố gắng lớn, mang lại nhiều điều tích cực.
1.2. Hệ thống pháp luật ĐDSH nhìn chung bảo đảm tính thống nhất,
tính phù hợp với hệ thống văn bản pháp luật hiện hành nhưng vẫn tồn
tại những mâu thuẫn, xung đột nhất định
Pháp luật
về ĐDSH hiện nay đảm bảo được tính thống nhất nội tại ở mức độ cao
của hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường, phục vụ
mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Các khía cạnh của ĐDSH cũng
như các nội dung quan trọng của bảo tồn ĐDSH trước đây chưa được
pháp luật điều chỉnh hoặc điều chỉnh ở mức sơ sài nay đã được Luật
ĐDSH 2008 quy định đầy đủ, toàn diện, như: vấn đề quy hoạch bảo tồn
(QHBT) ĐDSH; vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, vấn đề
kiểm soát sinh vật lạ xâm hại, tiếp cận bảo tồn cảnh quan... Tuy
nhiên cũng có một số vấn đề còn chưa thống nhất, cần được làm rõ hơn
nữa. Ví dụ như các quy định của Luật ĐDSH 2008 cho thấy, Luật này
điều chỉnh toàn bộ nguồn gen trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là điều cần
phải được thống nhất về nhận thức và giải thích rõ ràng hơn để tránh
gây mơ hồ về sự thống nhất của các yếu tố hợp thành ĐDSH. Bởi lẽ,
đối với hệ sinh thái, Luật chỉ đề cập đến các khu bảo tồn (KBT) và
các hệ sinh thái tự nhiên; đối với loài sinh vật, Luật chỉ đề cập
các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và giống
cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm nguy cấp, quý, hiếm,
trong khi đó đối với nguồn gen thì Luật lại không giới hạn phạm vi
điều chỉnh đối với nguồn gen nào?3 Hiện tại, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNN) đã ban hành Danh mục
nguồn gen cây trồng quý, hiếm cần bảo tồn (kèm theo Quyết định số
80/2005/QĐ-BNN ngày 05/12/2005). Đây là một trong những căn cứ có
thể được tham khảo để ban hành quy định hướng dẫn về bảo tồn và phát
triển bền vững tài nguyên di truyền.
1.3. Luật ĐDSH đã nội luật hoá các điều ước
quốc tế liên quan đến ĐDSH mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên
(đặc biệt là Công ước quốc tế về ĐDSH năm 1994)
Trong
thời gian vừa qua, Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết các điều ước
quốc tế liên quan đến ĐDSH như: Công ước Liên hiệp quốc về đa
dạng sinh học (UNCBD), Công ước về các vùng đất ngập nước
có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của
các loài chim nước (RAMSAR), Công ước về buôn bán quốc tế
các loài động, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng (CITES),
Nghị định thư về an toàn sinh học (CARTAGENA)… Hiện nay, nhiều
cam kết quốc tế đã được nội luật hóa trong Luật ĐDSH năm 2008.
Có thể thấy rằng, những nội dung nội luật hoá
quan trọng nhất là các nội dung trong Công ước của Liên hiệp quốc về
ĐDSH như: quy định rõ và đầy đủ về nội dung và trình tự, thủ tục
lập, thẩm định và phê duyệt QHBT ĐDSH cấp cả nước và cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương; quy định rõ và đầy đủ về bảo tồn và phát
triển bền vững các loài sinh vật, bao gồm bảo vệ loài thuộc danh mục
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và phát triển bền vững
các loài sinh vật; quy định về trách nhiệm quản lý nguồn gen và quản
lý các hoạt động liên quan đến nguồn gen,…; quy định về trách nhiệm
quản lý rủi ro; lập, thẩm định báo cáo đánh giá rủi ro, cấp
giấy chứng nhận an toàn…; Quy định rõ về trách nhiệm tổ chức điều
tra, lập, thẩm định và ban hành Danh mục loài ngoại lai xâm hại…
1.4. Pháp luật về ĐDSH còn một số thiếu sót, chưa hoàn thiện
1.4.1 Thiếu các quy định về thuế sử dụng các thành phần môi trường4
Thuế là
khoản đóng góp của các thể nhân và pháp nhân theo luật định nhằm đáp
ứng yêu cầu chi tiêu của Nhà nước. Như vậy, trường hợp này, thuế sử
dụng các thành phần môi trường sẽ có xu hướng tăng thêm thu nhập cho
ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, thuế sử dụng các thành phần môi
trường còn có mục đích giảm tốc độ khai thác lãng phí TNTN, sử dụng
tài nguyên một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đặc biệt là TNTN
không tái tạo. Thuế sử dụng các thành phần môi trường bao gồm: thuế
sử dụng đất, thuế rừng, thuế thu năng lượng... đó là các loại thuế
dùng để điều tiết thu nhập của những hoạt động khai thác tài nguyên,
các thành phần môi trường. Từ trước đến nay, tình trạng khai thác
bừa bãi, sử dụng lãng phí TNTN rất phổ biến dẫn đến các nguy cơ cạn
kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường. Trước thực tế trên, việc
phát triển và cải tiến các loại thuế sử dụng thành phần môi trường
sẽ đóng góp vai trò cốt yếu như một công cụ kinh tế hạn chế những
nhu cầu không quan trọng và xác định mức tối đa khi sử dụng và khai
thác TNTN, từ đó có cơ chế quản lý, điều chỉnh các hoạt động kỹ
thuật TNTN trong khả năng tái tạo, đảm bảo và khuyến khích những
hoạt động hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Trước yêu
cần thiết của việc ban hành một đạo luật quy định về thuế sử dụng
các thành phần môi trường trong mối tương quan với vấn đề bảo tồn
ĐDSH, hiện Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính soạn thảo
Luật Thuế bảo vệ môi trường, dự kiến sẽ trình Quốc hội
khoá XII thông qua vào kỳ họp thứ 8.
1.4.2 Thiếu quy định về chế tài đối với các hành vi gây ô nhiễm môi
trường làm ảnh hưởng đến ĐDSH
Chẳng
hạn, pháp luật đất đai hiện nay tuy đã có một số quy định về việc sử
dụng đất nông nghiệp liên quan đến việc bảo vệ môi trường (BVMT),
tuy nhiên, những quy định đó mới chỉ dừng lại ở việc bảo vệ và làm
tăng độ màu của đất, còn các quy định mang tính chế tài đối với việc
sử dụng hoá chất bừa bãi gây ô nhiễm đất,
nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến mất hay phá vỡ các hệ
sinh thái và các sinh cảnh thì chưa được quy định. Pháp luật hiện
hành mới chỉ quy định việc xử phạt hành chính đối với hành vi làm
giảm khả năng sản xuất của đất nông nghiệp, mà chưa có các quy định
về sử phạt hành chính đối với hành vi gây suy thoái, ô nhiễm... khi
sử dụng các loại đất khác.
1.4.3 Một số hạn chế khác của Luật ĐDSH năm 2008
Thứ
nhất,
một số quy định trong Luật ĐDSH năm 2008 còn chưa rõ ràng, chưa cụ
thể (ví dụ như Mục 3 Chương II - Phần kiểm soát các loài ngoại lại
xâm hại). Bên cạnh đó, các điều khoản giao Chính phủ quy định còn
khá nhiều (ví dụ như khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 30,…) sẽ làm cho
Luật còn chung chung, khó áp dụng trong thực tế.
Thứ
hai,
các quy định về dịch vụ môi trường liên quan đến ĐDSH, bồi thường
thiệt hại về ĐDSH còn sơ sài, chung chung, chưa rõ ràng. Các điều
luật đưa ra mới chỉ gợi mở vấn đề chứ chưa đi vào nội dung chính của
vấn đề, còn phụ thuộc vào “sự hướng dẫn chi tiết” của Chính phủ.
Thứ ba,
về các quy định về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích (Access to
genetic resources and Benefit Sharing) từ việc tiếp cận nguồn gen.
Vấn đề này được quy định tại Mục 1 Chương 5 của Luật ĐDSH (từ Điều
55 đến Điều 61) và một số điều khoản tại Mục 2 Chương 5 đã thể hiện
tương đối đấy đủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế5:
nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia tối cao, vĩnh viễn đối với
nguồn gen và trách nhiệm quốc gia giữ gìn và bảo tồn nguồn gen trên
lãnh thổ nước mình và sử dụng bền vững; nguyên tắc đồng ý thông báo
trước và cùng thoả thuận; nguyên tắc chia sẻ
công bằng và hợp lý nguồn gen. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu căn
cứ vào các Điều 55, 56, và 61 của Luật ĐDSH thì khó có căn cứ để
chia sẻ lợi ích cho cộng đồng ở các vùng đệm của các KBT, trong khi
cộng đồng là đối tượng cần được ưu tiên chia sẻ lợi ích để khuyến
khích họ tham gia bảo tồn theo cách tiếp cận bảo tồn dựa trên cộng
đồng6. Ngoài ra, Luật cũng chưa đề cập đến các vấn đề căn
bản như: hình thức chia sẻ, tỷ lệ phân chia lợi ích giữa các bên,
thẩm định và xác định giá trị của nguồn gen làm căn cứ phân chia lợi
ích, các quy định về thoả thuận chuyển giao
công nghệ bản quyền và sáng chế… Bên cạnh đó, Luật cũng chưa định rõ
cơ quan nào được phép tiếp nhận và cấp phép tiếp cận nguồn gen,…
Thứ tư,
so với các Luật Thuỷ sản năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng
năm 2004 và Luật BVMT năm 2005, trong Luật ĐDSH năm 2008 không có
các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về ĐDSH7 (cho dù
đó là các quy định dẫn chiếu đến các văn bản pháp luật khác). Điều
này sẽ làm cho Luật khó thực thi và thiếu đi tính răn đe.
1.4.4 Thiếu các văn bản pháp luật liên ngành điều tiết hoạt động bảo
tồn ĐDSH
Vấn đề
bảo tồn và phát triển ĐDSH đã được thống nhất trong một hành lang
pháp lý chung là Luật ĐDSH năm 2008. Tuy nhiên, vẫn có các văn bản
pháp luật chuyên ngành điều chỉnh vấn đề này, ví dụ như Luật Bảo vệ
và phát triển rừng năm 2004, Luật Thuỷ sản năm
2003,… và trong mối tương quan với các văn bản này, Luật ĐDSH được
xem là luật khung. Trong khi đó, một điều có thể nhận thấy là Việt
Nam vẫn còn thiếu các văn bản pháp luật liên ngành (giữa các Bộ,
ngành) để điều chỉnh cơ chế phối hợp trong hoạt động bảo tồn ĐDSH.
Đây là một thiếu sót khá lớn bởi Luật ĐDSH chỉ là luật khung, còn
việc điều chỉnh cụ thể lại là các văn bản chuyên ngành, do đó, việc
thiếu sót những văn bản liên ngành sẽ gây khó khăn trong sự kết hợp
giữa các ngành trong hoạt động này, dẫn đến một hậu quả là hiệu quả
của hoạt động bảo tồn ĐDSH không đạt được như ý muốn, tách riêng,
nhỏ lẻ giữa các ngành, thiếu tính gắn kết và đồng bộ,… Hơn nữa, ĐDSH
là một đối tượng đặc biệt, cần có sự phối hợp giữa các ngành, các
thành phần của xã hội thì mới mong có được kết quả bảo tồn và phát
triển như mong muốn.
1.5. Về tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật ĐDSH
Nhìn
chung, các chính sách, các quy hoạch cũng như chiến lược về bảo tồn
và phát triển bền vững ĐDSH của Nhà nước ta đã được công khai qua
các phương tiện truyền thông cũng như công báo. Bên cạnh đó, về mặt
nội dung của các quy phạm pháp luật, một số vấn đề như quy hoạch hệ
sinh thái tự nhiên, QHBT thiên nhiên… đã được quy định khá rõ ràng,
xác định được các nội dung quan trọng nên có khả năng thực thi một
cách minh bạch. Tuy nhiên, khi triển khai, một số vấn đề khác lại có
nhiều bất cập. Ví dụ như các quy định về tiếp cận nguồn gen và chia
sẻ lợi ích (như đã phân tích) còn thiếu những quy định quan trọng
(như hình thức chia sẻ lợi ích), chưa xác định được cơ quan có thẩm
quyền tiếp nhận và cho phép tiếp cận nguồn gen, quyền lợi của cộng
đồng dân cư ở vùng đệm giữa các KBT... Hơn nữa Chính phủ cũng chưa
ban hành các văn bản hướng dẫn vấn đề này một cách chi tiết và cụ
thể.
2.
Thực trạng thi hành pháp luật bảo tồn ĐDSH hiện nay
Luật ĐDSH
năm 2008 có hiệu lực thi hành đã mở ra những hi vọng mới cho việc
thực thi pháp luật về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH ở Việt Nam
hiện nay. Tuy nhiên, Luật này mới đi vào cuộc sống chưa lâu nên chưa
bộc lộ được hết những vấn đề còn tồn tại cần sửa đổi cho phù hợp với
thực tế. Thông qua các quy định hiện hành cũng như những đánh giá
ban đầu của giới chuyên môn về Luật ĐDSH nói riêng và pháp luật ĐDSH
nói chung, có thể rút ra một số nhận định sau:
Thứ nhất,
Luật ĐDSH mới đi vào thực tiễn chưa lâu, bản thân từ chính quyền đến
người dân còn mơ hồ về những nội dung của Luật8. Điều này
dẫn đến sự nhận thức của nhiều người về vấn đề ĐDSH chưa đầy đủ,
thấu đáo. Đơn cử như tại Chương 3 Điều 30 Luật quy định quyền và
nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong KBT là
một quy định liên quan hết sức thiết thực đối với những người sinh
sống thuộc khu vực này, nhưng để những người dân, thậm chí cả chính
quyền địa phương hiểu và thực thi theo đúng Luật cần phải có rất
nhiều thời gian, công sức và tiền bạc.
Thứ hai,
nhận thức của các cấp chính quyền hiện nay về yếu tố con người trong
việc bảo tồn, phát triển ĐDSH còn chưa cao9. Quy định của
pháp luật chặt chẽ, đúng đắn là điều kiện đầu tiên nhưng nếu thiếu
nguồn lực con người, hay con người thiếu trình độ thì những quy định
đó có hay đến đâu cũng khó mà được thực thi trong thực tế. Tuy
nhiên, hiện nay có thể nhận thấy công tác vận động, tuyên truyền và
giáo dục của chúng ta đối với nhân dân đang rất yếu, gây ảnh hưởng
lớn đến việc thực thi pháp luật ĐDSH.
Thứ ba,
một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật ĐDSH mới đang trong quá trình
xây dựng và hoàn thiện. Ngày 30/6/2009, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường (Bộ TN&MT) đã ký trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ĐDSH để
Chính phủ xem xét10. Mặc dù đây là nghị định đầu tiên
hướng dẫn Luật này đang được hoàn thiện, nhưng những nội dung như
quản lý rủi ro của sinh vật biến đổi gen và mẫu vật di truyền của
sinh vật biến đổi gen đối với ĐDSH và dịch vụ môi trường liên quan
đến ĐDSH chưa được đề cập vì chúng là các vấn đề mới, phức tạp cần
có thời gian nghiên cứu thêm. Vì vậy, Bộ TN&MT đã đề xuất và được
Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, các vấn đề này sẽ được quy định
trong các Nghị định khác sẽ nghiên cứu ban hành sau. Đây cũng chính
là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật ĐDSH
nói chung và Luật ĐDSH nói riêng trong thực tế.
Thứ tư,
hoạt động quản lý bảo tồn ĐDSH còn tồn tại một số bất cập sau:
(i) Hiệu quả thực thi pháp luật cũng như quản lý của
các cơ quan quản lý hoạt động bảo tồn ĐDSH còn chưa cao. Hiện nay,
Bộ TN&MT là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước trong các lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên đất,
tài nguyên khoáng sản, môi trường11... Ngoài ra, Bộ còn
được giao nhiệm vụ là cơ quan đầu mối xây dựng và thực hiện “Chương
trình thực hiện Luật ĐDSH giai đoạn 2009-2014”. Đối với hoạt động
bảo tồn ĐDSH, cơ quan chuyên môn được giao nhiệm vụ này là Cục Bảo
tồn ĐDSH (thuộc Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT). Tuy nhiên, do Cục
Bảo tồn ĐDSH mới được thành lập12 cho nên những kết quả
đạt được cũng như nội dung, quy mô hoạt động trong lĩnh vực này còn
khiêm tốn, chưa sâu, rộng.
(ii) Hoạt
động quy hoạch đối với công tác bảo tồn ĐDSH nói chung và các vấn đề
của ĐDSH nói riêng còn chưa toàn diện, đồng bộ, dẫn đến sự chồng
chéo, sự phát triển TNTN không hợp lý và bền vững trong toàn quốc và
ở từng địa phương.
(iii)
Hiện nay cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành trong việc bảo tồn ĐDSH
còn khá rời rạc, nhỏ lẻ, thiếu tính thống nhất và đôi khi còn chồng
chéo. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ các lý do: ĐDSH là một
vấn đề rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, thành tố của
môi trường; thiếu các văn bản liên ngành điều chỉnh việc phối hợp
hoạt động bảo tồn ĐDSH.
3. Một
số định hướng hoàn thiện pháp luật bảo tồn ĐDSH hiện nay
3.1. Xây dựng, hoàn thiện một số vấn đề về bảo tồn ĐDSH
- Về quy
hoạch bảo tồn ĐDSH: (i) nhất thể hoá các loại quy hoạch có chung
tính chất bảo tồn các nguồn TNTN và ĐDSH. Không nên tiếp cận việc
xây dựng quy hoạch theo hướng chia cắt các hệ sinh thái rừng, biển,
đất ngập nước như trước đây mà nên xây dựng theo hướng xác định các
mức độ cần thiết, mức độ ưu tiên bảo tồn ĐDSH; (ii) trong trường hợp
chưa đạt được việc nhất thể hoá các loại quy hoạch thì cần phải chỉ
rõ mối quan hệ giữa các quy hoạch bảo vệ rừng, QHBT đất ngập nước,
QHBT đất ngập nước chuyên ngành, QHBT biển nêu trên với QHBT ĐDSH
thuộc phạm vi quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ13.
- Những
nội dung liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường: Chi trả dịch vụ
HST (Payments for Ecosystems Services - PES) hay còn gọi là chi trả
dịch vụ môi trường14 (Payments for Environment Services -
PES) là công cụ kinh tế, sử dụng để những người được hưởng lợi từ
các dịch vụ HST chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và
phát triển các chức năng của HST đó. Ví dụ, rừng đầu nguồn có tác
dụng giữ nước, duy trì chất lượng nước, chống sạt lở đất và lũ lụt
cho hạ lưu... Vì vậy, những người được hưởng lợi ở hạ lưu cần chi
trả một khoản tương xứng cho những người trực tiếp tham gia duy trì
và bảo vệ các chức năng của rừng đầu nguồn.
Hiện đã
có các quy định về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường
rừng tại Quyết định số 380/2008/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng
Chính phủ, theo đó, dịch vụ môi trường rừng bao gồm cả yếu tố cảnh
quan và ĐDSH. Tuy nhiên, do chính sách này chỉ áp dụng thí điểm
trong thời hạn 02 năm và với 07 tỉnh, thành phố (gồm: Lâm Đồng, Sơn
La, Đồng Nai, Hoà Bình, Bình Thuận, Ninh Thuận, TP. Hồ Chí Minh) nên
các quy định hướng dẫn thi hành Luật ĐDSH năm 2008 được ban hành
trong thời gian tới (thời gian còn hiệu lực của việc thí điểm chi
trả dịch vụ môi trường rừng) cần chú ý đến các loại hình của dịch vụ
môi trường có liên quan đến ĐDSH, thời gian và đối tượng áp dụng để
tránh sự trùng lặp, chồng chéo giữa các văn bản15. Hơn
nữa, đây là một vấn đề còn mới trong pháp luật ĐDSH của Việt Nam nên
chúng ta cũng cần quan tâm, học hỏi những kinh nghiệm quốc tế điều
chỉnh vấn đề này để góp phần mang lại hiệu quả thi hành cao cho công
cụ hữu hiệu này.
- Đối với
các nguồn lực cho ĐDSH: Thành lập Quỹ bảo tồn ĐDSH quốc gia để sử
dụng vào việc quản lý và bảo tồn ĐDSH; xây dựng cơ chế thu và sử
dụng Quỹ; tăng cường phát huy tác dụng của Quỹ BVMT Việt Nam; xây
dựng đề án 1% ngân sách cho công tác BVMT và các nguồn thu từ các
dịch vụ ĐDSH; quy định cơ chế thu và chi Quỹ cho công tác quản lý và
bảo tồn ĐDSH.
3.2. Định hướng xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật ĐDSH trong thời gian tới
Hiện nay,
dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật ĐDSH sắp được ban hành.
Một số nội dung quan trọng đã được dự thảo Nghị định quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành, như: KBT; bảo tồn và phát triển bền vững
các loài sinh vật; bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di
truyền; việc chuyển tiếp các KBT thiên nhiên... Tuy nhiên, có những
nội dung quan trọng khác trong Luật cũng cần được quy định chi tiết
và hướng dẫn sớm.
Xuất phát
từ nhu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực ĐDSH, Chính phủ có thể
ban hành Nghị định xử lý vi phạm hành chính về bảo tồn và phát triển
bền vững ĐDSH trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 78 Luật ĐDSH năm
2008; Nghị định hướng dẫn về Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích
từ việc tiếp cận nguồn gen (hướng dẫn vấn đề này nên xác định cụ thể
cư dân cộng đồng tại vùng đệm của các KBT là một bên liên quan trong
ba bên được chia sẻ lợi ích theo quy định tại Điều 61 của Luật ĐDSH
năm 2008; quy định đầy đủ nội dung các vấn đề trình tự, thủ tục tiếp
cận nguồn gen, quản lý, chia sẻ lợi ích thu được...); Nghị định về
quản lý rủi ro của sinh vật biến đổi gen và mẫu vật di truyền của
sinh vật biến đổi gen đối với ĐDSH và dịch vụ môi trường liên quan
đến ĐDSH; Nghị định về việc điều tra, nghiên cứu, quan trắc và quản
lý thông tin về ĐDSH16;…
Dự kiến
trong năm 2011, Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành các Quyết định về
việc ban hành quy chế quản lý KBT và quy hoạch tổng thể ĐDSH toàn
quốc đến năm 202017. Bên cạnh đó, cần phải sửa đổi, ban
hành mới các Thông tư liên tịch giữa Bộ TN&MT với các Bộ có liên
quan, cụ thể như sau18: Sửa đổi, bổ sung Thông tư liên
tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV giữa Bộ TN&MT với Bộ Nội vụ hướng dẫn
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan chuyên môn
giúp UBND quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương;
Thông tư liên tịch giữa Bộ TN&MT với Bộ NN&PTNN về việc khảo nghiệm
và cấp phép nuôi trồng sinh vật ngoại lai; Thông tư liên tịch giữa
Bộ TN&MT với Bộ NN&PTNN về quản lý các loài nguy cấp, quý hiếm được
ưu tiên bảo vệ; Thông tư liên tịch giữa Bộ TN&MT với Bộ NN&PTNN, Bộ
Khoa học và Công nghệ quy định về cơ chế tiếp cận nguồn gen và chia
sẻ lợi ích; Thông tư quy định hệ thống phân loại đất ngập nước Việt
Nam; Thông tư hướng dẫn trình tự, các bước lập, thẩm định, phê duyệt
điều chỉnh QHBT ĐDSH; Thông tư quy định về quan trắc và chế độ báo
cáo ĐDSH.
3.3. Cần có sự học hỏi, tiếp thu pháp luật các nước trên thế giới
trong quá trình hoàn thiện pháp luật về ĐDSH
ĐDSH là sự phong phú và đa dạng của sự sống, có vai
trò sống còn đối với trái đất. ĐDSH có nhiều giá trị to lớn, tập
trung vào ba nhóm: giá trị kinh tế, giá trị nhân văn, và giá trị tài
nguyên và môi trường. Việc bảo vệ các giá trị của ĐDSH là mối quan
tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Trên thực tế, các
nước có Luật ĐDSH đã quản lý và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên ĐDSH,
đồng thời hạn chế các hoạt động làm suy giảm các nguồn TNTN và ĐDSH.
Vì vậy, việc tham khảo pháp luật nước ngoài về ĐDSH là hết sức cần
thiết cho việc xây dựng pháp luật về ĐDSH ở Việt Nam19.
3.4. Bổ sung chế tài đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường dẫn đến
mất hay phá vỡ các hệ sinh thái và các sinh cảnh
- Bổ sung
chế tài đối với hành vi sử dụng hoá chất bừa
bãi gây ô nhiễm đất, nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp vào Nghị
định số 182/2004/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai.
- Quy
định hình thức xử phạt với các hành vi sử dụng làm xói mòn đất đai,
sa mạc hoá đất đai, hành vi làm ô nhiễm đất trong thăm dò, khai thác
khoáng sản hoặc sản xuất gạch ngói và các vật liệu xây dựng khác.
- Bổ sung
quy định xử phạt vi phạm hành chính với hành vi gây suy thoái, ô
nhiễm khi sử dụng các loại đất khác (ngoài đất nông nghiệp) vào Nghị
định số 182/ 2004/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai.
3.5. Nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn sử dụng các công cụ
kinh tế cho quản lý nguồn tài nguyên20
Luật BVMT
năm 2005 đã thể hiện tinh thần áp dụng chính sách kinh tế là một
trong những chính sách của Nhà nước về BVMT: “Đẩy mạnh tuyên truyền,
giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh
tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong
hoạt động BVMT” (Khoản 2 Điều 5). Trên cơ sở đó, Điều 112 Luật BVMT
năm 2005 quy định về thuế môi trường; Điều 113 quy định về phí BVMT
và Điều 114 quy định về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong
hoạt động khai thác TNTN.
Theo quy
định này, trong thời gian tới, chúng ta cần tiếp tục xây dựng và ban
hành các chính sách và văn bản pháp luật sau:
- Luật Thuế BVMT. Nội dung chính của Luật này là phải
khoanh vùng được các đối tượng nộp thuế và mức thuế phải phù hợp để
vừa phải đảm bảo phát triển ngành khai thác các loại TNTN vừa đảm
bảo khai thác trong khả năng tái tạo đối với các loại tài nguyên tái
tạo được và không tái tạo được và BVMT. Chính vì thế tất cả các tổ
chức kinh doanh không phân biệt ngành nghề, hình thức khai thác,
hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên, có địa điểm hay không
có địa điểm cụ thể, sử dụng và khai thác các thành phần môi trường,
TNTN của đất nước đều phải nộp thuế (phí) và mức phí có thể nên thay
đổi theo hướng từ sản lượng thành phần môi trường được khai thác
sang trữ lượng các thành phần môi trường được khai thác, có như thế
mới khuyến khích các hoạt động khai thác, sử dụng các biện pháp tận
thu, vừa tiết kiệm được TNTN, vừa bảo vệ được môi trường.
Các khoản thuế thu được phải được trích một phần xứng
đáng để đầu tư trở lại cho việc khắc phục và tái tạo môi trường.
Điều này có thể thực hiện được khi hình thành cơ chế hoạt động của
hệ thống quỹ môi trường và các loại thuế sử dụng các thành phần môi
trường sẽ là một trong nguồn cơ bản của quỹ môi trường.
- Nghị định về hạn ngạch khai thác tài nguyên, ví dụ
khai thác, đánh bắt thuỷ sản, khai thác khoáng sản... Hạn ngạch khai
thác này có thể chuyển nhượng thông qua các giấy phép.
- Nghiên cứu xây dựng văn bản sử dụng các loại công
cụ khác như đặt cọc - hoàn trả, thưởng phạt, phí gây ô nhiễm phục vụ
cho mục đích BVMT nói chung và bảo vệ ĐDSH nói riêng.
(1)
Vũ Thu Hạnh, Trần Thị Hương Trang, Mức độ phù hợp của Luật ĐDSH với
các văn bản có liên quan, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,
http://www.nclp.org.vn.
(2) Ví dụ như: Theo Luật ĐDSH 2008, KBT được phân
thành: i) Vườn quốc gia; ii) Khu dự trữ thiên nhiên; iii) KBT loài -
sinh cảnh; iv) Khu bảo vệ cảnh quan (Điều 16). Như vậy, so với Luật
BVMT năm 2005, đã có sự khác biệt về Khu dự trữ sinh quyển. So với
Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã có sự khác nhau về KBT
loài - sinh cảnh, Khu dự trữ thiên nhiên. So với Luật Thuỷ sản năm
2003, sự khác biệt đó là Khu bảo vệ cảnh quan. Vấn đề đặt ra là cách
phân loại các KBT theo Luật ĐDSH năm 2008 có thay thế cách phân loại
các KBT hiện hành theo các Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004,
Luật Thuỷ sản năm 2003, Nghị định số
109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập
nước hay không? Nếu áp dụng các quy định về hiệu lực của văn bản quy
phạm pháp luật, theo đó “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp
luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng
một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau” thì
việc phân loại lại các KBT theo Luật ĐDSH 2008 sẽ được tiến hành
trên thực tế như thế nào? Trong thời gian bao lâu? Mặc dù Luật đã có
quy định chuyển tiếp (Khoản 1 Điều 76) nhưng quy định đó chỉ có giá
trị đối với việc thành lập các KBT chứ không có ý nghĩa đối với việc
phân loại chúng.
(3) Vũ Thu Hạnh, Trần Thị Hương Trang, Mức độ phù hợp
của Luật Đa dạng sinh học với các văn bản có liên quan, Nguồn: Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp,
http://www.nclp.org.vn.
(4)
Viện Khoa học Quản lý môi trường, Báo cáo đánh giá hệ thống pháp
luật Việt Nam về bảo tồn ĐDSH năm 2006, tr. 11.
(5)
Trần Thị Hương Trang, Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ sử
dụng nguồn gen, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp
luật, số tháng 8/2009, tr. 67-68.
(6)
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 55 thì Ban quản lý KBT hoặc tổ chức được
giao để quản lý KBT sẽ được chia sẻ lợi ích từ nguồn gen của KBT.
Xem thêm: Trần Thị Hương Trang, Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi
ích từ sử dụng nguồn gen, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tlđd, tr.
68.
(7)
Ngoại trừ quy định cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan
có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm
trong việc nhập khẩu loài thuộc danh mục loài ngoại lai xâm hại.
(8)
Luật quy định về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH; quyền
và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo
tồn và phát triển bền vững ĐDSH.
(9)
Luật ĐDSH: Chưa được coi trọng! nguồn: http://www.doisongphapluat.com.vn
(10)
Huỳnh Thị Mai (Ban Quản lý tài nguyên và đa dạng sinh học), Dự thảo
Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật ĐDSH, nguồn: http://isponre.gov.vn.
(11)
Xem Điều 1 Nghị định số 25/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT ban hành
ngày 04/03/2008.
(12)
Cục này được thành lập năm 2008 theo Quyết định số 44/QĐ-TCMT ngày
21/11/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Bảo tồn đa dạng
sinh học. Quyết định này hiện nay đã được thay thế bởi Quyết định số
947/QĐ-TCMT ngày 18/8/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học.
(13)
Khoản 2 Điều 10 Luật ĐDSH 2008.
(14)
Mặc dù PES là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn
bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã nhanh chóng
trở nên phổ biến ở một số nước. Sự phát triển của PES ngày càng được
lan rộng và ở một số nước PES còn được thể chế hóa trong các văn bản
pháp luật. Hiện nay, PES đã nổi lên như một giải pháp chính sách để
khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội. Các
nước phát triển ở Mỹ La tinh đã sử dụng các mô hình PES sớm nhất.
PES cũng đã bắt đầu được thực hiện ở các nước châu Á. Ở châu Phi,
mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, đánh giá điều kiện thực hiện PES, tuy
nhiên, tiềm năng và cơ hội rất hạn chế ở châu lục này. Hiện tại, chỉ
có hai chương trình về dịch vụ thủy văn đang được thực hiện ở Nam
Phi và một số ít sáng kiến đang được đề xuất ở Nam Phi, Tunisia và
Kenya. Ở châu Âu, chính phủ một số nước cũng đã quan tâm đầu tư và
thực hiện nhiều chương trình, mô hình PES. Ôxtrâylia đã luật pháp
hóa quyền phát thải các-bon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư
đăng ký quyền sở hữu hấp thụ các-bon của rừng. Cho đến nay, hàng
trăm sáng kiến mới về PES đã được xây dựng trên toàn cầu. Costa
Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chương trình PES quy mô
lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ đất để thực hiện các biện pháp sử
dụng đất nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn ĐDSH,
chống xói mòn, hấp thụ cácbon và vẻ đẹp cảnh quan.
(15)
Vũ Thu Hạnh, Trần Thị Hương Trang, Mức độ phù hợp của Luật Đa dạng
sinh học với các văn bản có liên quan, Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp, http://www.nclp.org.vn.
(16)
Do các hoạt động này ở Việt Nam còn nhiều bất cập, vì vậy, cần quy
định cụ thể các vấn đề sau:
- Hỗ
trợ và khuyến khích điều tra, nghiên cứu, thăm dò, tiếp cận, tạo và
chuyển giao công nghệ thích hợp đối với đa dạng sinh học; đăng ký và
lưu trữ các kết quả nghiên cứu; cấp phép nghiên cứu và thăm dò sinh
học;
- Xây
dựng cơ chế phối hợp hài hoà giữa các cấp để hỗ trợ thực hiện công
tác giám sát, quan trắc; kiểm kê các nguồn đa dạng sinh học; quan
trắc hiện trạng và diễn biến các hệ sinh thái cũng như số lượng, mức
độ bị đe dọa của các loài sinh vật; xây dựng cơ chế quan trắc và các
bộ chỉ thị để xác định hiện trạng bảo tồn các thành phần đa dạng
sinh học; báo cáo tình trạng bảo tồn thiên nhiên và đánh giá tác
động môi trường; bâng cấp, tăng cường và cơ chế hoạt động của các
trạm quan trắc về đa dạng sinh học; quy định về giám sát, quan trắc
đa dạng sinh học;
- Quy
định về việc xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng
sinh học; Cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa các Bộ, ngành:
Quy định về thu thập, đăng ký và phân tích thông tin, dữ liệu; Hợp
tác trong lĩnh vực kiểm kê ĐDSH.
(17)
ThS. Dương Thanh An, Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực bảo
tồn Đa dạng sinh học, tr. 12, Hội thảo tham vấn những vướng mắc, bất
cập của pháp luật về BVMT và phương hướng hoàn thiện, Hà Nội ngày
23/09/2009.
(18)
ThS. Dương Thanh An, tlđd tr. 13, 14.
(19)
ThS. Huỳnh Thị Mai, Pháp luật về Đa dạng sinh học một số nước và
kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 17 (tháng
10/2008), nguồn: http://www.nclp.org.vn
(20)
Viện Khoa học Quản lý môi trường, Báo cáo đánh giá hệ thống pháp
luật Việt Nam về bảo tồn ĐDSH năm 2006, tr. 15-17.
Trương Hồng Quang - Viện Khoa học pháp lý Bộ tư pháp
|