Một số sửa đổi bổ sung cơ bản của Bộ luật hình sự năm 2015 (Phần V)

5

3. Chương XV: Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân

Điều 157. Tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật

Đây là tội xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cá nhân của con người, của công dân. Để đề cao việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, điều luật này đã có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Nâng mức hình phạt tại khoản 1 lên từ 06 tháng đến 03 năm (thay vì từ 03 tháng đến 02 năm quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS năm 1999); nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm lên 03 năm và bỏ hình phạt cảnh cáo.

Hai là: Ngoài các tình tiết tăng nặng được giữ nguyên như: Có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, đối với người thi hành công vụ, đối với 02 người trở lên của khoản 2 Điều 123 BLHS năm 1999, khoản 2 Điều này bổ sung thêm các tình tiết tặng nặng:

e, Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g, Làm cho gia đình người bị giam, giữ lâm vào tình trạng khó khăn, quẫn bách;

h, Gây rối loạn tâm thần và hành vi từ 11% đến 45%”.

Ba là: Mức hình phạt của khoản 2 cũng được nâng lên từ 02 năm đến 07 năm.

Bốn là: Hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 3 Điều 123 BLHS năm 1999 được quy định cụ thể gồm một trong các trường hợp sau đây:

a) “Làm người bị bắt, giữ, giam làm trái pháp luật chết hoặc tự sát;

b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá của nạn nhân;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi 46% trở lên.

Chú ý: Cần phân biệt tội phạm này với tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật” (Điều 377 BLHS năm 2015).

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự, trừ những người được pháp luật cho phép được bắt, giữ, giam người nhưng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm pháp luật. Tội phạm này không có chủ thể đặc biệt.    

Năm là: Nâng mức hình phạt quy định tại khoản 3 “từ 05 năm đến 12 năm”.

Như vậy: Việc nâng mức hình phạt ở các khung hình phạt, bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung là những sửa đổi, bổ sung cơ bản của điều luật này để tăng cường hơn việc đấu tranh phòng, chống tội phạm này đã xảy ra nhiều trong thực tiễn, đồng thời bảo đảm việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Điều 158.Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Tên của tội danh này được sửa từ “Tội xâm phạm chỗ ở của công dân” thành “Tội xâm phạm chỗ ở của người khác”. Việc sửa đổi tên của điều luật từ “công dân” sang  người khác” là mở rộng phạm vi điều chỉnh và thể hiện rõ quy định của Hiến pháp về bảo vệ quyền con người. Nhà nước Việt Nam không chỉ bảo đảm quyền của công dân Việt Nam mà còn bảo đảm quyền của những người không có quốc tịch Việt Nam hoặc người không có quốc tịch.

Điều luật này có một số sửa đổi khác:

Một là: Sửa về kỹ thuật lập pháp, khoản 1 được thiết kế rõ ràng hơn:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm;

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác.

b) Dùng vũ lực, đê dọa dùng vụ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc bằng thủ đoạn trái pháp luật khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ;

c) Dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở được vào chỗ ở của họ;

d) Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp.

Hai là: Khoản 2 của Điều này giữ nguyên các tình tiết tăng là có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn và có sửa đổi, bổ sung các tình tiết:

“c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Sửa từ quy định gây hậu quả nghiêm trọng của điểm c khoản 2 Điều 124 BLHS năm 1999).

Ba là: Mức hình phạt nghiêm khắc hơn: bỏ hình phạt cảnh cáo ở khoản 1, nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm lên 02 năm, nâng mức phạt tù ở khoản 1 từ 03 tháng đến 02 năm (thay vì 03 tháng đến 01 năm), nâng mức hình phạt tù của khoản 2 từ 01 năm đến 05 năm (thay vì từ 01 năm đến 03 năm).

Điều 159. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

Tên của điều luật được bổ sung “hoặc các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác “tức là điều luật mở rộng phạm vi điều chỉnh (xử lý hình sự) đối với hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thông tin cá nhân dưới mọi hình thức chứ không chỉ riêng thư tín, điện thoại, điện tín.

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung khác như sau:

Một là: Cấu thành cơ bản của điều luật được thiết kế lại rõ ràng hơn:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị tphatj cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt tư tín, điện báo, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

e) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

Hai là: Khoản 2 của điều luật giữ lại các tình tiết tăng nặng như có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, phạm tội 02 lần trở lên, nhưng cụ thể tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 125 BLHS năm 1999 bằng hai tình tiết:

“d, Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;

đ) Làm nạn nhân tự sát và bỏ tình tiết “tái phạm”.

Ba là: Nâng mức hình phạt tiền ở khoản 1 từ 20.000.000 đến 50.000.000 đồng (thay vì từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng), nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm lên 03 năm; nâng mức hình phạt tù ở khoản 2 từ 01 năm đến 03 năm (thay vì từ 03 tháng đến 02 năm); bổ sung hình phạt tiền là hình phạt bổ sung tại khoản 4 “từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng”

Điều 160. Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân

Điều luật bổ sung thêm “tội xâm phạm quyền của công dân về biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân”. Đây là một tội mới được xây dựng nhằm bảo vệ quyền biểu quyết của công dân khi Nhà nước trưng cầu ý dân mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định. Tội này được xây dựng ghép trong Điều 160.

Về cơ bản, điều luật này được kế thừa quy định của Điều 126 BLHS năm 1999 cả về thiết kế, chế tài hình phạt, nhưng có bổ sung tình tiết quy định tại điểm c “Dẫn đến hoãn ngày bầu cử, bầu cử lại hoặc hoãn trưng cầu ý dân”.

Điều 161. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân.

Điều luật này bổ sung thêm “tội làm sai lệch kết quả trưng cầu ý dân” và được ghép trong Điều 161.

Về cơ bản, điều luật này được kế thừa quy định của Điều 127 BLHS năm 1999 cả về thiết kế và chế tài hình phạt, nhưng tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng được quy định cụ thể tại điểm b khoản 2:

“Dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử hoăc trưng cầu ý dân”.

Điều 162. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Tên của điều luật được sửa rõ hơn “ Sa thải người lao động trái pháp luật” thay cho “buộc người lao động thôi việc trái pháp luật”

Hai là: Điều luật được thiết kế thành 03 khoản ( Điều 128 BLHS năm 1999 không chia khoản).

Khoản 1: “1. Người nào vị vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây làm cho người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công, thì bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức:

b) Sa thải trái pháp luật đối với người lao động;

c) Cưỡng ép, đe dọa buộc người lao động, công chức, viên chức phải thôi việc.

Khoản 2 “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng  đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

c) Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;

d) Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát.

Khoản 3 “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Ba là: Mức hình phạt quy định tại khoản 2 của điều luật này nghiêm khắc hơn so với quy định tại Điều 128 BLHS năm 1999. Hình phạt tiền được quy định trong khoản 1 và khoản 2, hình phạt tù được nâng lên ở khoản 2 tối đa là 03 năm tù.(thay vì 01 năm).

Bốn là: Bổ sung khoản 3 hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định.

Chú ý: Chủ thể của tội phạm này là người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy Nhà nước hoặc người chủ sử dụng lao động.

Tội phạm này phải thỏa mãn các dấu hiệu “vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác” và “làm cho người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công”. Nếu không có các dấu hiệu này thì không cấu thành tội và việc giải quyết có thể bằng xử lý hành chính hoặc người lao động khởi kiện vụ án lao động hoặc vụ án hành chính.

Điều 163. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân

Tội này được tách ra từ Điều 129 BLHS năm 1999 “Tội xâm phạm quyền hội họp. lập hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân” vì đó là các quyền khác nhau, được Hiến pháp ghi nhận tại hai điều khác nhau ( Điều 24 và Điều 25 Hiến pháp năm 2013).

Điều luật này được thiết kế lại rõ ràng hơn:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, họp hợp pháp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 1 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trờ lên;

d) Dẫn đến biều tình;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

So với Điều 129 BLHS năm 1999 thì Điều này là thiết kế thêm khoản 2 với các tình tiết định khung tăng nặng và mức hình phạt được quy định nghiêm khắc hơn (từ 01 năm đến 03 năm tù). Khoản 1 của Điều này cũng không quy định hình phạt cảnh cáo.

Điều 164. Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác

Điều luật này được tách ra từ Điều 129 BLHS năm 1999, nhưng tên của điều luật được sửa từ “Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân” thành “tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác” nhằm mở rộng phạm vi bảo vệ quyền con người, dù họ không phải là công dân Việt Nam hoặc người không có quốc tịch.

Thiết kế điều luật, chế tài hình phạt trong các khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng về hình phạt bổ sung được quy định tương tự như Điều 163 đã nêu ở trên.

Điều 165. Tội xâm phạm quyền bình đằng giới

Tội phạm này được sửa từ “Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ” thành “Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới”. Khái niệm về giới được mở rộng hơn không chỉ là phụ nữ.

Điều luật được thiết kế thành 03 khung (thay vì không chia khung như quy định tại Điều 130 BLHS năm 199).

Khoản 1: “1. Người nào vì lý do giới mà thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.

Khoản 2: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

Khoản 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

So với Điều 130 BLHS năm 1999 thì điều luật này đã sửa đổi theo hướng tăng nặng hơn cả ở mức hình phạt quy định tại khoản 1 và khoản 2, bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung, bổ sung hình phạt tiền trong cấu thành cơ bản và trong cấu thành tăng nặng, bổ sung hình phạt bổ sung.

Điều 166. Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo.

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Khoản 1: Nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm lên 03 năm, nâng mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; bổ sung tình tiết:

“a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi  khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý khiếu nại, tố cáo”.

Sửa điểm a khoản 1 Điều 132 BLHS năm 1999 về kỹ thuật và trở thành điểm b

“b, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo”.

Khoản 2 của Điều này quy định rõ hơn và bổ sung thêm tình tiết định khung:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Trả thù người khiến nại, tố cáo;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;

d) Dẫn đến biểu tình;

e) Làm người khiếu nại, tố cáo tự sát.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 167. Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biều tình của công dân.

Đây là một điều luật mới, quy định ghép của 04 tội danh là:

- Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận của công dân;

- Tội xâm phạm quyền tự do báo chí của công dân;

- Tội xâm phạm quyền tiếp cận thông tin của công dân;

- Tội xâm phạm quyền  biểu tình của công dân.

Đây là các quyền được Hiến pháp năm 2013 quy định, cần được thể chế hóa trong BLHS. Điều luật quy định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử lý luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vị này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn:

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Khách thể của tội phạm này là hành vi xâm phạm đến các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin và quyền biểu tình của công dân.

Khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác như lừa gạt, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc để công dân không được phát biểu thằng thắn hoặc không được viết bài phản ánh trên báo chí về nhưng sai phạm của người lãnh đạo đó.

Tóm lại: Chương XV bao gồm 11 điều luật, nhiều hơn Chương XIII của BLHS năm 1999 02 điều luật (Do tách điều luật và do bổ sung điều luật mới). Đây là chương mà hầu hết các điều luật được sửa theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bổ sung thêm các tình tiết tăng nặng ở khung hình phạt tăng nặng và được thiết kế lại theo hướng xây dựng nhiều khung hình phạt nhằm bảo đảm rõ ràng, minh bạch hơn, thể hiện rõ hơn việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp năm 2013 quy định.

4. Chương XVI: Các tội xâm phạm sở hữu

Điều 168. Tội cướp tài sản

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung quan trong sau đây:

Một là: Các dấu hiệu định tính quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 “ gây hậu quả nghiêm trọng; gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” được quy định cụ thể trong từng khoản để loại bỏ các dấu hiệu này khỏi điều luật hoặc không quy định trong khung tăng nặng.

Ví dụ: Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 133 BLHS năm 1999 đã được thay thế bằng các điểm:

“g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người không có khả năng tự vệ.

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”;

Có phải là hậu quả rất nghiêm trọng được quy định cụ thể ở khoản 3 bằng tình tiết “Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”? Thực ra, tình tiết này không phải là hậu quả mà là tình tiết tăng nặng. Như vậy, khoản 3 của Điều luật này không quy định hậu quả rất nghiêm trọng vì các tình tiết tăng nặng khác như chiếm đoạt tài sản giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (điểm a); gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% vẫn là tình tiết định khung được kế thừa. Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm c khoản 4 Điều 133 BLHS năm 1999 cũng được thay bằng tình tiết  “Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp”. Đây cũng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chứ không phải là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, tức là khoản 4 Điều luật này đã bỏ tình tiết định khung “Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”.

Hai là: Khoản 4 của Điều này bổ sung tình tiết “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể cảu mỗi người 31% trở lên”.

Ba là: Bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm này.

Bốn là: Bổ sung quy định tại Khoản 5 “Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Chú ý: Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự. (Khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015).

Điều 170. Tôi cưỡng đoạt tài sản

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Thay tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng” bằng tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” (điểm đ khoản 2).

Hai là: Thay tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng” bằng tình tiết “Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh” (Điều b Khoản 3).

Ba là: Thay tình tiết “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” bằng tình tiết “Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp” (Điểm b Khoản 4).

Điều 171. Tội cướp giật tài sản

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Bổ sung các tình tiết tăng nặng tại khoản 2

“g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”;

Bỏ tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng ở khoản 2 Điều 136 BLHS năm 1999.

Hai là: Bỏ tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại điểm c khoản 3 Điều 136 BLHS năm 1999 và thay bằng tình tiết “Lợi dụng hiện tại, dịch bệnh” (điểm c khoản 3 Điều này).

Ba là: Bổ sung tình tiết “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên”. (điểm b khoản 4 Điều này).

Bốn là: Tách tình tiết “làm chết người” thành tình tiết riêng, quy định tại điểm c khoản 4 “làm chết người”.

Năm là: Bỏ tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại điểm c khoản 4 Điều 136 BLHS năm 1999 và thay bằng tình tiết “Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp” (điểm d khoản 4 Điều này).

Chế tài hình phạt của tội phạm này được giữ nguyên, mức hình phạt cao nhất là tù chung thân.

Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

- Điều luật này được sửa đổi bổ sung cơ bản trong cấu thành tội phạm

“1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng, nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 170, 171, 173,174,175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại”.

- Khoản 2 Điều này bổ sung một số tình tiết định khung:

“d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ”

đ) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nhưng thuộc trong một trong các trường hợp quy định tại một trong các điểm a,b,c và d Khoản 1 Điều này”.

Bỏ tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 137 BLHS năm 1999.

- Khoản 3 Điều này bổ sung tình tiết tại điểm:

“b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a,b,c và d Khoản 1 Điều này

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”

Bỏ tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 137 BLHS năm 1999.

- Khoản 4 Điều này bổ sung tình tiết tại điểm:

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đến 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d Khoản 1 Điều này.

c)  Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Bỏ tình tiết gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 137 BLHS năm 1999.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

- Cấu thành cơ bản của tội phạm này được sửa tương tự như Điều 172 chỉ khác là ở điểm b “Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168,169,170,171,172…” tức là không có Điều 173 mà thay bằng Điều 172.

- Khoản 2 của Điều này bổ sung điểm c, Khoản 3 bổ sung điểm b và khoản 4 bổ sung điểm b quy định trường hợp giá trị tài sản tại các khoản này, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và khoản 1 Điều này.

- Các tình tiết tăng nặng khác tại Khoản 3 và khoản 4 của Điều luật được bổ sung tương tự như Điều 172. “Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh, lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp”.

- Các dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định trong Điều 138 BLHS năm 1999 đã được bỏ.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Cách thiết kế điều luật, các dấu hiệu bổ sung trong cấu thành cơ bản, các tình tiết tăng nặng tại các khung hình phạt tương tự như Điều 172 và 173. Chỉ khác là dấu hiệu cấu thành của tội này là “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản…”

Tóm lại: Việc sửa 03 tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như nêu trên là mở rộng hơn phạm vi xử lý với các tội phạm này khi quy định trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tính thần với người bị hại. Quy định mới này nhằm tăng cường việc bảo vệ tài sản của nhân dân, nhất là đối với người nghèo.

Mặt khác, các quy định đối với trường hợp có giá trị tài sản bị chiếm đoạt quy định tại các khung tăng nặng ở Khoản 2,3 và 4 của các điều luật này, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d Khoản 1 của các điều luật này được coi là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt, tức là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những quy định mới, tăng nặng hơn so với quy định của các Điều luật này tại BLHS năm 1999.

Trong quá trình xây dựng các điều luật này, cũng có nhiều ý kiến không đồng tình với việc sửa đổi, bổ sung này vì đi ngược lại định hướng hướng thiện của việc sửa đổi, bổ sung BLHS về tăng năng trách nhiệm hình sự và mở quá rộng phạm vi xử lý đối với các trường hợp phạm tội mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000  đồng.

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có nguồn gốc từ các giao dịch dân sự, nhưng người có nghĩa vụ về tài sản đã không thực hiện cam kết, thỏa thuận mà nảy sinh ý định và thực hiện ý định chiếm đoạt một phần hay toàn bộ tài sản đã nhận, tức là người có nghĩa vụ về tài sản đã cố tình không thực hiện nghĩa vụ của mình. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một tội phạm đã, đang xảy ra phổ biến trong cả nước, nhưng việc xử lý hình sự cũng còn có những vướng mắc khi phải chứng minh các dấu hiệu của tội phạm này theo quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999. Rất nhiều trường hợp do không xử lý về hình sự được nên gây bức xúc trong nhân dân, thậm chí từ các giao dịch dân sự này đã trở thành các vụ án hình sự nghiêm trọng khác. Việc nghiên cứu, sửa đổi Điều này là cần thiết, nhưng sửa thế nào vừa bảo đảm không hình sự hóa các quan hệ dân sự, lại vừa đảm bảo bảo vệ được quyền tài sản của con người, đấu tranh có hiệu quả với các hành vi phạm tội là một bài toán khó. Trong quá trình xây dựng điều luật này chúng tôi đã đưa ra rất nhiều phương án khác nhau để đánh giá tác động của từng phương án với đời sống xã hội. Tuy nhiên, không thể có phương án nào thật hoàn chỉnh hơn phương án đã được Quốc hội thông qua tại Điều 175 BLHS năm 2015.

Điều 175 quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng, nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168,169,170,171,172,173,174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thị bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tàu sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”.

Như vậy, dấu hiệu định tội danh này đã được sửa tại cấu thành cơ bản:

- Bổ sung trường hợp chiếm đoạt tài sản dưới 4.000.000 đồng nhưng tài sản đó là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

- Sửa đổi dấu hiệu bỏ trốn bằng dấu hiệu “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”

- Nâng mức hình phạt tối thiểu của Khoản 1 từ 03 tháng lên 06 tháng tù.

Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác sau khi đã thực hiện các giao dịch dân sự ngay thẳng chỉ cấu thành tội phạm khi có một trong các dấu hiệu sau đây:

Một là: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đã nhận. Tài sản bị chiếm đoạt có thể là một phần hay toàn bộ. Hành vi gian dối có thể là nói dối là bị mất tài sản, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản.

Hai là: Đến thời hạn trả lại tài sản theo thỏa thuận, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả lại tài sản.

Ví dụ: A vay của B 500.000.000 đồng, thỏa thuận đến 30/06/2016 phải trả lại số tiền đã vay. Hết ngày 30/06/2016, A cố tình không trả tiền cho B mặc dù A có khả năng, điều kiện trả tiền. Điều kiện, khả năng trả tiền của A phải được chứng minh như A có xe ô tô trên 500.000.000 đồng, có nhà đất, có các tài sản khác, nhưng cố tình(chây ỳ) không chịu trả tiền cho B.

Ba là: Sử dụng tài sản đã vay, mượn, thuê hoặc nhận được của người khác vào mục đích bất hợp pháp dẫn tới không có khả năng trả nợ. Hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là hành vi sử dụng tài sản không đúng cam kết, thỏa thuận. Ví dụ như mượn xe ô tô, xe máy sau đó đem bán để đánh bạc và do thua bạc nên không có khả năng trả lại tài sản.

Tất nhiên, tài sản bị chiếm đoạt phải thỏa mãn các dấu hiệu quy định trong cấu thành cở bản: 4.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản đã bị kết án về các tội phạm chiếm đoạt, hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính, có giá trị đặc biệt về một tinh thần đối với người bị hại.

- Khoản 2 của Điều này bỏ tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng.

- Khoản 3 của Điều này bỏ tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng và thay bằng tình tiết quy định tại điểm b “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

- Khoản 4 của Điều luật này bỏ tình tiết Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và chỉ quy định “Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm”.

Chú ý: Trong thực tiễn xét xử, một số Thẩm phán nhầm lẫn khi định tội danh giữa tội lừa đào chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hai tội danh này được phân biệt như sau:

+ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: người phạm tội phải có hành vi gian dối để nhận được tài sản từ chủ sở hữu. Hành vi gian dối được người phạm tội chủ động thực hiện và là điều kiện để thực hiện hành vi chiếm đoạt, hành vi chiếm đoạt tài sản là mục đích và kết quả của hành vi gian dối.

+ Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thì việc giao nhận tài sản là hoàn toàn hợp pháp, ngay thẳng. Khi giao dịch này được thực hiện thì người phạm tội chưa có hành vi gian dối, chưa có mục đích chiếm đoạt tài sản. Ý thức chiếm đoạt tài sản chỉ nẩy sinh sau khi người phạm tội đã nhận được tài sản và họ thực hiện các hành vi gian dối, cố tình không trả tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn tới không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, dấu hiện cơ bản để phân biệt hai tội này chính là thời điểm thực hiện hành vi gian dối, mục đích chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thực hiện các hành vi này trước, còn người phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thực hiện các hành vi này sau khi đã nhận được tài sản.

- Tội phạm này được hình sự hóa khi bổ sung thêm dấu hiệu “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại “ Quy định này đã mở rộng phạm vi lý đối với người phạm tội. Mặt khác, tội phạm này cũng phi hình sự khi bỏ hình phạt tù chung thân ở Khoản 5 của điều luật.

Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

Về cơ bản, điều luật này được kế thừa quy định của Điều 142 BLHS năm 1999 cả về thiết kế, nội dung của điều luật. Chỉ có hai sửa đổi là:

- Giảm mức hình phạt cải tạo không giam giữ ở Khoản 1 từ 03 năm xuống 02 năm

- Thay các dấu hiệu “cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá có giá trị đặc biệt” quy định ở Khoản 2 Điều 142 năm 1999 bằng “bảo vật quốc gia”

Điều 177. Tội sử dụng trái phép tài sản

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Khoản 1 của điều luật nâng trị giá tài sản trong cấu thành cơ bản lên từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng (thay vì từ 50.000.000 đồng trở lên); nâng mức hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (thay vì từ 5000.000 đồng đến 50.000.000 đồng). Như vậy, điều luật đã phi hình sự đối với các hành vi sử dụng trái phép tài sản dưới 100.000.000 đồng

Hai là: Bổ sung hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong chế tài của khoản 2 và giảm mức hình phạt từ tối thiểu của khoản này “từ 01 năm đến 05 năm” (thay vì từ 02 năm đến 05 năm)

Ba là: bỏ tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng ở khoản 2 và thay bằng tình tiết quy định tại điều b “tài sản là bảo vật quốc gia”

Bốn là: Khoản 3 của điều luật này bỏ tình tiết gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và thay bằng “phạm tội sử dụng trái phép tài sản có trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt từ 03 năm đến 07 năm.

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

- Khoản 1 của điều luật này được thiết kế lại và bổ sung một số dấu hiệu của tội phạm:

“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

- Khoản 2 của điều luật có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Sửa “dùng chất cháy” thành “dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ”. Việc sửa này thành tháo gỡ vướng mắc khi áp dụng “chất cháy” đối với trường hợp dùng xăng, dầu để đốt tài sản (đốt nhà, đốt xe máy, ô tô…). Xăng, dầu không phải là chất cháy nên áp dụng tình tiết tăng nặng định khung là không chính xác. Chất cháy là chất trong điều kiện tự nhiên tự cháy mà không cần phải có tác động nào của con người. Do đó, điều luật quy định “dùng chất nguy hiểm về cháy” được hiểu là các chất gây nguy hiểm khi cháy như xăng, dầu. 

Hai là: bổ sung điểm c “gây thiệt hại là bảo vật quốc gia”, điểm g “gây thiệt hại cho tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều này”

- Khoản 3 của điều luật bổ sung điểm b “gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, và d Khoản 1 Điều này”.

- Khoản 4 của điều luật bổ sung điểm b “gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều này”.

Khoản 4 của điều luật bỏ hình phạt tù chung thân. Mức hình phạt tối đa là 20 năm tù.

Điều 179. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan tổ chức, doanh nghiệp.

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung quan trọng sau đây:

Một là: Mở rộng phạm vi xử lý hình sự đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Do vậy, đây là một tội ghép của 04 tội:

- Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

- Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan.

- Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức.

- Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp.

Chú ý:

- Nếu hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản của cơ quan trong bộ máy Nhà nước thì phạm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, còn nếu hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan mà không phải cơ quan Nhà nước thì phạm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan.

- Đây là tội ghép nên tùy theo nguyên đơn dân sự hoặc bị hại của vụ án đó để định tội và tuyên án theo đúng một trong các tội của điều luật này mà không được tuyên toàn bộ điều luật.

Hai là: Nâng mức thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng trong cấu thành cơ bản (thay vì quy định từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng quy định tại cấu thành cơ bản của Điều 144 BLHS năm 1999). Có nghĩa là điều luật đã phi hình sự đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản dưới 100.000.000 đồng và hành vi phạm tội gây thiệt hại tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng quy định tại Khoản 2 Điều 144 BLHS năm 1999 cũng chỉ bị xử lý ở Khoản 1 Điều này.

Ba là:  Khoản 1 của Điều này đã bỏ hình phạt tù và chỉ quy định hình phạt cảnh cáo và hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Bốn là:  Các trị giá tài sản bị thiệt hại quy định tại Khoản 2 được nâng lên từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng và Khoản 3 được nâng lên 2.000.000.000 đồng trở lên.

Năm là:  Hình phạt tù quy định ở Khoản 2 được giảm xuống từ 01 năm đến 05 năm (thay vì từ 02 năm đến 07 năm) và hình phạt tù quy định ở Khoản 3 cũng được giảm xuống từ 05 năm đến 10 năm (thay vì từ 07 năm đến 12 năm).

Sáu là:  Hình phạt bổ sung quy định tại Khoản 4 cũng được sửa cho phù hợp với 04 tội danh này.

“4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

(Điều luật trước đây quy định cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản của Nhà nước)

Điều 180. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

- Điều luật này đã bỏ hình phạt tù tại Khoản 1 và giữ lại hình phạt cảnh cáo và hình phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.

- Giảm hình phạt tù quy định tại Khoản 2 từ 03 tháng đến 02 năm (thay vì quy định từ 01 năm đến 03 năm của Khoản 2 Điều 145 BLHS năm 1999)

- 5. Chương XVII: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

Điều 181: Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện.

Như vậy, đây là một điều luật ghép của 04 tội danh:

- Tội cưỡng ép kết hôn.

- Tội cưỡng ép ly hôn.

- Tội cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

- Tội cản trở ly hôn tự nguyện.

Điều luật quy định:

“Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”.

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Thiết kế lại điều luật theo hướng rõ ràng, rành mạch hơn; quy định cụ thể về hậu quả nghiêm trọng do hành vi phạm tội gây nên.

“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Điều 183. Tội tổ chức tảo hôn

Tội tảo hôn được quy định ghép trong tội phạm này tại Điều 148 BLHS năm 1999 đã được phi tội phạm. Điều luật này chỉ còn tội tổ chức tảo hôn. Trong quá trình xây dựng điều luật này, có một số ý kiến đề nghị bỏ cả tội danh này vì trong thực tiễn hầu như các Tòa án không xét xử loại tội phạm này. Các hành vi tổ chức tảo hôn vẫn xảy ra ở nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thậm chí ở cả thành phố, tuy nhiên các hành vi này chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà hầu như không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, có lẽ cũng vì không có “tái phạm hành chính về hành vi này”.

Không xử lý vụ án hình sự nào về tội tổ chức tảo hôn không có nghĩa là điều luật không có hoặc không còn tác dụng. Một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức tảo hôn không dám tiếp tục vi phạm nữa, bởi vì nếu vi phạm thì sẽ phạm tội. Đó chính là tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm của Điều luật này. Vì vậy, BLHS năm 2015 vẫn quy định tội tổ chức tảo hôn.

“Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm”.

Chú ý:  tuổi kết hôn được quy định tại điểm a Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Do vậy, hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC. “Nam bước sang tuổi 20 và nữ bước sang tuổi 18 kết hôn là hợp pháp” là không còn giá trị và cần phải hướng dẫn lại cho đúng quy định của pháp luật. Ngay từ khi hướng dẫn này được ban hành (Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000), chúng tôi đã có ý kiến không đồng tình vì không thể cho phép người chưa thành niên (là nữ) được kết hôn. Tuy nhiên, không hiểu vì sao hướng dẫn không phù hợp này vẫn tồn tại gần 15 năm và đến nay vẫn chưa được sửa kịp thời, ngay cả khi Luật hôn nhân, và gia đình năm 2014 đã có hiệu lực pháp luật được 01 năm rồi?

Điều 184. Tội loạn luân

“Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ, hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

- Điều luật này bổ sung quy định “mà biết rõ người đó” để loại trừ tội phạm đối với những trường hợp không biết. Chẳng hạn trường hợp người cha hoặc mẹ có con với người khác nhưng không cho ai biết về việc này, dẫn tới người con cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha có quan hệ giao cấu với người anh chị em của mình.

- Theo quy định tại Khoản 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

“17. Những người cùng dòng máu trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau”

- Mức hình phạt của tội phạm này được nâng lên từ 01 năm đến 05 năm tù (thay vì từ 06 tháng đến 05 năm quy định tại Điều 150 BLHS năm 1999).

Điều 185. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung cả về kỹ thuật và nội dung khi đã được thiết kế thành 02 Khoản và bổ sung các dấu hiệu định tội và tình tiết định khung tăng nặng.

“1. Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

- Về cơ bản, điều luật này kế thừa quy định của Điều 152 BLHS năm 1999, nhưng đã sửa dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng bằng “làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe”.

- Mức hình phạt của tội phạm này là phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Điều 187. Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

Đây là một điều luật mới nhằm đấu tranh, ngăn chặn các hành vi lợi dụng quy định của Luật hôn nhân gia đình cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo để trục lợi.  Điều luật quy định:

“1. Người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi khách quan thể hiện bằng việc tổ chức cho người có nhu cầu có con với người mang thai hộ hoặc với người cho phôi, cho noãn, cho tinh trùng, hoặc với người thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.

Tội phạm được thực hiện bằng lỗi cố ý.

Khách thể của tội phạm: tội phạm xâm phạm đến chế độ hôn nhân và gia đình

6. Chương XVIII: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là một chương lớn BLHS năm 2015. Chương này được thiết kế mới với 03 Mục với 47 điều.

- Mục 1: Các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại, bao gồm 12 tội, quy định từ Điều 188 đến Điều 199.

- Mục 2: Các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bao gồm 17 điều, từ Điều 200 đến Điều 216.

- Mục 3: Các tội phạm khác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, bao gồm 18 điều, từ Điều 217 đến Điều 234.

Đây là một Chương được sửa đổi, bổ sung tương đối nhiều, cả về kỹ thuật, nội dung điều luật, đặc biệt đây cũng là Chương có tới 15 tội danh mới được bổ sung và bãi bỏ (phi tội phạm) đối với 04 tội danh được quy định trong BLHS năm 1999.

Các tội danh được quy định mới là:

- Điều 212. Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán.

- Điều 213. Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm.

- Điều 214. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

- Điều 215. Tội gian lận bảo hiểm y tế.

- Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

- Điều 217. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh.

- Điều 218. Tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản.

- Điều 219. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí.

- Điều 220. Tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng.

- Điều 221. Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.

- Điều 222. Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng.

- Điều 223. Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng.

- Điều 224. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng.

- Điều 230. Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

- Điều 234. Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã.

Các tội danh được bãi bỏ (Phi tội phạm hóa) là:

- Tội kinh doanh trái phép.

- Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế.

- Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

- Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng.

Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trng (Điều 165 BLHS năm 1999) về thực tế đã được bãi bỏ, không còn quy định trong BLHS năm 2015. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết thì không bãi bỏ Điều 165 mà được thay thế bằng các tội phạm mới được bổ sung trong Chương này, đó là các tội phạm xâm phạm đến các quy định trong các lĩnh vực quản lý kinh tế cụ thể của Nhà nước. Đây là một sửa đổi, bổ sung rất quan trọng nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch trong xử lý tội phạm. Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiệm trọng không còn là cái túi chứa các hành vi phạm tội mà các cơ quan tiến hành tố tụng khi không chứng minh được hành vi phạm tội cụ thể nào thì đưa vào cái túi này.

Trong quá trình nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Chương này, việc thay thế Điều 165 BLHS năm 1999 (thực chất là loại bỏ điều luật này) gặp không ít các ý kiến phản đối vì cho rằng nếu bỏ tội danh này thì dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, Quốc hội đã chấp nhận việc thay thế tội phạm này và chúng tôi cho rằng đây là một bước tiến của pháp luật hình sự Việt Nam.

Chương XVIII: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là một Chương lớn, số lượng các điều luật tới 47 điều, các dấu hiệu định tội, các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt được quy định chi tiết, cụ thể trong từng điều luật. Vì vậy chúng tôi không thể trình bày cụ thể từng sửa đổi, bổ sung của từng điều luật mà chỉ trình bày có tính chất tổng quát đối với đối với những sửa đổi, bổ sung cơ bản trong từng Mục của Chương này.

1) Một số sửa đổi, bổ sung cơ bản của Mục 1: Các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại.

Mục 1 của Chương này bao gồm 12 tội phạm là các tội: Buôn lậu (Điều 188). Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 184), Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 192), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú ý, thuốc bảo vệ thực vật (Điều 195), Tội đầu cơ (Điều 196), Tội quảng cáo gian dối (Điều 197), Tội lừa dối khách hàng (Điều 198), Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện (Điều 199).

Mục 1 Chương XVIII có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:

Một là: Các tình tiết định khung hình phạt mang tính chất định tính, trừu tượng về hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn; số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn đã được quy định cụ thể, lượng hóa cụ thể trong từng khung hình phạt.

Ví dụ: thu lợi bất chính lớn được lượng hóa là “Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (điểm d Khoản 2 Điều 188); thu lợi bất chính rất lớn được lượng hóa “từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (điểm b Khoản 3 Điều 188); thu lợi bất chính đặc biệt lớn được lượng hóa “1.000.000.000 đồng trở lên” (điểm b Khoản 4 Điều 188).

Hoặc hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được lượng hóa bằng tỷ lệ tổn thương cơ thể hoặc thiệt hại về tài sản (các điểm d Khoản 1, điểm h, i, k, l Khoản 2; điểm đ, e, g, h Khoản 3 Điều 192).

Hai là: Trừ các Điều 197, 198, 199, các tội phạm khác trong Mục này đều quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Các quy định xử lý pháp nhân thương mại phạm tội được thiết kế tại các Khoản riêng sau các Khoản xử lý cá nhân phạm tội. Pháp nhân thương mại phạm các tội quy định trong Mục này đều bị xử phạt bằng các hình phạt chính quy định trong mỗi tội phạm cụ thể và còn có thể áp dụng một hoặc một số các hình phạt bổ sung của điều luật dành cho pháp nhân thương mại (Khoản 6 Điều 188; Khoản 5 Điều 189; Khoản 5 Điều 191; Khoản 5 Điều 192; Khoản 6 Điều 193; Khoản 6 Điều 194; Khoản 6 Điều 195).

Ba là: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm được tách ra từ Điều 157 BLHS năm 1999 thành tội riêng quy định tại Điều 193 và bổ sung thêm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm. Do đó đây là một tội ghép của 03 tội. Do được tách ra thành tội riêng nên hình phạt tử hình không quy định trong tội phạm này nữa. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194) vẫn quy định hình phạt cao nhất là tử hình.

Bốn là: Điều 155 BLHS năm 1999 quy định tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm được tách ra thành 02 tội:

- Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190)

- Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191)

Việc tách riêng hai tội này nhằm đảm bảo chính sách hình sự được áp dụng đúng và chính xác hơn khi tính nguy hiểm của các hành vi phạm tội này khác nhau. Chế tài hình phạt của Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm nghiêm khắc hơn so với tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.

Năm là: Nhìn chung các quy định về hình phạt tù tại các Khoản của các điều luật trong Mục này không có sửa đổi lớn. Riêng các hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đều được nâng lên rất cao.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 188 quy định mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng (thay vì từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng); Khoản 1 Điều 189 quy định mức hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng; Khoản 1 Điều 190 quy định mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng (thay vì từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng)…

Hoặc các hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đều được nâng lên, mức thấp nhất là 10.000.000 đồng, cao là 100.000.000 đồng (thay vì từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng).

Sáu là: Một số sửa đổi, bổ sung của Điều 199 “Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện “theo hướng quy định cụ thể, lượng hóa, chia nhỏ khung hình phạt, tăng hình phạt tiền.

“1. Người nào có trách nhiệm mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Cắt điện không có căn cứ hoặc không thông báo theo quy định;

b) Từ chối cung cấp điện không có căn cứ;

c) Trì hoãn việc xử lý sự cố điện không có lý do chính đáng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc tồn tại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

c) Gây thiệt hại về tài sản của 1.500.000.000 đồng trở lên.

Chủ thể của tội phạm này là người có chức vụ, quyền hạn, có trách nhiệm trong việc cung ứng điện, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi khách quan được biểu hiện tại các điểm a, b, c Khoản 1 Điều này.

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý.

Khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội xâm phạm trật tự quản lý, cung cấp điện của Nhà nước.

2) Một số sửa đổi, bổ sung cơ bản của Mục 2: Các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm

Mục 2 Chương XVIII gồm 17 tội phạm là các tội: Tội trốn thuế (Điều 200), Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201), Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả (Điều 202), Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 203), Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 204), Tội lập quỹ trái phép (Điều 205), Tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Điều 206), Tội làm, tàng trữ, vận chuyển. lưu hành tiền giả (Điều 207), Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành, công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác (Điều 208), Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209), Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210), Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211), Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 212), Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213), Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214), Tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215), Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216).

Một là: Bổ sung 05 tội danh mới trong lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm (các Điều 212, 213, 214, 215 và 216) và phi tội phạm hóa đối với các hành vi báo cáo sai trong quản lý kinh tế, vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Hai là: Các tình tiết định tội, định khung hình phạt có tính chất định tính về hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn; thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn; trường hợp nghiêm trọng, trường hợp rất nghiêm trọng, trường hợp đặc biệt nghiêm trọng… được quy định cụ thể trong tất cả các cấu thành của các tội phạm của Mục này.

Ví dụ: Số lượng lớn quy định tại Khoản 1 Điều 203 là hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số; số lượng rất lớn quy định tại điểm d Khoản 2 Điều này là từ 100 số trở lên.

Hoặc hậu quả nghiêm trọng của Khoản 2 Điều này là “Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên.

Hoặc trường hợp nghiêm trọng quy định tại Khoản 2 Điều 207 là “trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”; Trường hợp rất nghiêm trọng quy định tại Khoản 3 Điều này là “trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên. Quy định lượng hóa cụ thể này cũng được thể hiện rõ trong Điều 208 Bộ luật này.

Ba là: Nhìn chung mức hình phạt tù quy định trong các điều luật của Mục này không có sự điều chỉnh nhiều, trừ những tội được thiết kế lại theo hướng có nhiều khung hình phạt để đảm bảo rút ngắn khoảng cách hình phạt tù, bổ sung các tình tiết định khung hình phạt (Ví dụ Điều 206) hoặc đã bỏ hình phạt tù trong Khoản 1 Điều 204 “Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”

Bốn là: Bổ sung hình phạt tiền trong một số tội kể cả ở cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng (Khoản 2) (Các điều 200, 201, 202, 203, 204, 205, 206, 209, 210, 211 của Bộ luật này)

Năm là: Các mức hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đều được nâng lên trong hầu hết các tội phạm quy định trong Mục này.

Ví dụ: hình phạt tiền quy định tại Khoản 1 Điều 202 được nâng lên từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; hình phạt bổ sung là phạt tiền được nâng lên từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 (thay vì từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ở Khoản 1 và từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng ở hình phạt bổ sung).

Sáu là: Các quy định căn cứ vào số tiền phạm pháp để phạt theo số lần (gấp 02 lần, từ 01 lần đến 03 lần, từ 01 lần đến 10 lần…) được sửa đổi bằng số tiền cụ thể.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 201 quy định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (thay cho phạt tiền từ 01 lần đến 10 lần số tiền lãi Khoản 1 Điều 200 quy định phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng (thay cho phạt tiền “từ 01 lần đến 05 lần số tiền trốn thuế”

Bảy là: Cấu thành cơ bản của hầu hết các tội phạm trong Mục này được thiết kế lại theo hướng quy định rõ các dấu hiệu định tội (các điều 200. 202, 206, 209, 211…)

Tám là: Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong các tội phạm như Tội trốn thuế (Điều 200), Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 203), Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 210), Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211), Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213), Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216) của Bộ luật này.

3) Một số sửa đổi, bổ sung cơ bản của Mục 3: Các tội phạm khác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Mục 3 của Chương này gồm 18 điều quy định các tội: Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217), Tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản (Điều 218), Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí (Điều 219), Tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 220), Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 222), Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 223), Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 224), Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225), Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226), Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227), Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Điều 228), Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229), Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 230), Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ (Điều 231), Tội vi phạm các quy định về khai thác , bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Điều 232), Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 233), Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234). Một số sửa đổi, bổ sung của Mục 3 như sau:

Một là: Trong số 18 tội danh quy định tại Mục 3, thì có 10 tội danh mới và trong đó có 09 tội danh được xây dựng để thay thế cho tội Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Đó là các điều 217, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230 của BLHS năm 2015.

Hai là: Các tình tiết định tội, định khung hình phạt có tính chất định tính, trừu tượng về hậu quả, thu lợi bất chính, số lượng, giá trị lớn, giá trị rất lớn, giá trị đặc biệt lớn, đất có diện tích lớn, đất có diện tích rất lớn, đất có diện tích đặc biệt lớn đã được lượng hóa tối đa trong cấu thành của các tội phạm của Mục này. Quy định mới này tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tạo ra sự thống nhất cao trong nhận thức và áp dụng quy định của pháp luật.

Ví dụ: Quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 174 BLHS năm 1999 “đất có diện tích lớn hoặc có giá trị lớn” được lượng hóa trong điểm a và điểm b Khoản 1 Điều 229 BLHS năm 2015.

“a) Đất trồng lúa có diện tích từ 5000 m2 đến dưới 30.000 mét vuông (m2); đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2); đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp có diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 40.000 mét vuông (m2);

b) Đất có giá trị quyền sử dụng đất được quy thành tiền từ 500.000.000 đông đến dưới 2.000.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp hoặc từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng đối với đất phi nông nghiệp.”

- Điểm b và c Khoản 2 là quy định cụ thể của “đất có diện tích rất lớn hoặc giá trị rất lớn.”

- Điểm a và điểm b Khoản 3 là quy định cụ thể của “đất có diện tích đặc biệt lớn hoặc giá trị đặc biệt lớn”.

Ví dụ 2: Các tình tiết về hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được quy định cụ thể.

Hậu quả nghiêm trọng trong cấu thành cơ bản của tội vi phạm  các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227 BLHS năm 2015 được quy định rõ trong các điểm a, b, c Khoản 1 Điều này; Hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng được quy định cụ thể trong các điểm c, d, đ, e Khoản 2 Điều này (gây sự cố môi trường; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 04 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên; làm chết người).

Ba là: Một số tội phạm được quy định hết sức cụ thể trong cấu thành cơ bản và trong cấu thành tăng nặng.

Ví dụ: Điều 232. Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Quy định của tội phạm này dài tới 03 trang.

Điều 233. Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng và tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234) cũng là những tội phạm được quy định rất cụ thể, các điều luật này gần 02 trang.

Bốn là: Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217), Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225), Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226), Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227), Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Điều 232), Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234) của Bộ luật này.

 

Nguyễn Quang Lộc - Thành viên Tổ chuyên gia xây dựng BLHS năm 2015

Văn bản mới

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133 - Fax :
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao