Một số sửa đổi bổ sung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Phần II)

5

5. Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự

Phần thứ tư - xét xử vụ án hình sự được thiết kế thành 03 chương.

- Chương XX: Những quy định chung, gồm 18 Điều, từ Điều 250 đến Điều 267.

- Chương XXI: Xét xử sơ thẩm, gồm 62 điều, từ Điều 268 đến Điều 329; được  thiết kế thành 06 mục:

+ Mục I: Thẩm quyền của Tòa án các cấp.

+ Mục II: Chuẩn bị xét xử.

+ Mục III: Quy định chung về thủ  tục tố tụng tại phiên tòa.

+ Mục IV: Thủ tục bắt đầu phiên tòa.

+ Mục V: Tranh tụng tại phiên tòa.

+ Mục VI: Nghị án và tuyên  án.

- Chương XXI: Xét xử phúc thẩm gồm …điều; từ Điều …đến Điều …; được thiết kế thành 02 mục:

+ Mục I: Tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị.

+ Mục II: Thủ tục xét xử phúc thẩm.

Phần thứ tư là một phần quan trọng của BLTTHS, thể hiện rõ tư tưởng chỉ đạo của cải cách tư pháp: Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm; đồng thời cũng thể hiện việc thể chế hóa nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm và việc bảo đảm Tòa án thực hiện quyền tư pháp trong xét xử của Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, phần này có nhiều sửa đổi, bổ sung rất quan trọng so với quy định của BLTTHS năm 2003.

5.1 Chương XX: Những quy định chung

5.1.1. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 250)

- Việc xét xử được tiến hành bằng lời nói.

Hội đồng xét xử  phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ  án bằng cách hỏi, nghe ý kiến của bị cáo, bị  hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, người giám định, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập; xem xét, kiểm tra các tài liệu, chứng cứ đã thu thập; công bố biên bản, tài liệu và tiến hành hoạt động tố tụng khác để kiểm tra chứng cứ; nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

- Việc xét xử được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ và thời gian tạm ngừng phiên tòa.

Những quy định tại khoản 1 thể hiện nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng và mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là thẩm vấn và tranh tụng. Đây cũng là những nhiệm vụ quan trọng mà Hội đồng xét xử phải thực hiện tại phiên tòa mà không được cắt xén hoặc bổ sung thêm các vấn đề khác không liên quan đến vụ án.

Việc xét xử được tiến hành liên tục tức là không ngắt quãng và phải tuân thủ theo đúng trình tự xét xử mà Bộ luật này quy định. Thời gian nghỉ xét xử là thời gian nghỉ buổi trưa, nghỉ hết ngày làm việc, nghỉ thứ bảy, chủ nhật, nghỉ ngày lễ hoặc những ngày mà Nhà nước cho phép nghỉ làm việc, trong đó có cả những ngày nghỉ bù.

5.1.2.  Tạm ngừng phiên tòa (Điều 251)

- Việc xét xử có thể tạm ngừng khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Cần phải xác minh, thu thập, bổ  sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể  thực hiện ngay tại phiên tòa và có thể thực hiện trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;

b) Do tình trạng sức khỏe, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền tiến hành tố  tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng họ có thể tham gia lại phiên tòa trong thời gian 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;

c) Vắng mặt Thư  ký Tòa án tại phiên tòa.

- Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa và thông báo cho những người tham gia tố tụng biết. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa không quá 05 ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn tạm ngừng phiên tòa, việc xét xử được tiếp tục. Trường hợp không thể tiếp tục xét xử vụ án thì phải hoãn phiên tòa.

Tạm ngừng phiên tòa là một quy định mới của BLTTHS để giải quyết những tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa. Đây là một quy định chỉ có ý nghĩa tương đối với các trường hợp quy định tại điểm a và b Điều này vì việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật hoặc khắc phục tình trạng sức khỏe hoặc các sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan cũng chỉ là dự kiến là 05 ngày. Nếu hết thời hạn này mà vẫn không giải quyết được các căn cứ tạm ngừng phiên tòa, tức là không thể tiếp tục việc xét xử vụ án thì Tòa án phải quyết định hoãn phiên tòa.

Việc tạm ngừng phiên tòa phải thông báo cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tức là không phải thông báo bằng văn bản. Tuy nhiên việc mở lại phiên tòa vào ngày nào, có phải thông báo hoặc triệu tập lại hay không thì điều luật không quy định rõ ràng. Trong thời hạn 05 ngày tạm ngừng phiên tòa nếu các căn cứ để tạm ngừng phiên tòa được khắc phục sớm hơn, chẳng hạn sức khỏe đã hồi phục, đã bổ sung được tài liệu, chứng cứ… thì cũng vẫn phải chờ hết 05 ngày tạm ngừng phiên tòa vì Tòa án hoặc là đã thông báo tạm ngừng tại phiên tòa, hoặc là không kịp để triệu tập nếu tiếp tục xét xử vụ án.

Đối với trường hợp tạm ngừng phiên tòa vì Thư ký Tòa án vắng mặt tại phiên tòa thì điều luật cũng không quy định cụ thể ai là người phải ghi vào biên bản phiên tòa. Có lẽ trường hợp này chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên của HĐXX phải thực hiện thay nhiệm vụ của Thư ký Tòa án.

5.1.3. Tòa xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ (Điều 252)

Một số quy định của điều luật này như: xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa, xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, định giá tài sản, trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại, yêu cầu định giá lại tài sản là những hoạt động thuộc thẩm quyền của Tòa án từ khi thụ lý hồ sơ vụ án mà BLTTHS năm 2003 đã quy định. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có quyền xác minh thu thập, bổ sung chứng cứ. Điều 252 quy định lại các quyền này và có bổ sung việc Tòa án tiếp nhận hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án. Xét về bản chất thì đó cũng là các hoạt động điều tra của Tòa án trước khi xét xử vụ án. Thông thường khi hồ sơ vụ án cần phải điều tra, xác minh, thu thập, bổ sung thêm chứng cứ thì Tòa án nên trả hồ sơ để VKStrực tiếp bổ sung hoặc VKStrả hồ sơ cho cơ quan điều tra xác minh. Tòa án chỉ thực hiện việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ khi VKSkhông bổ sung được theo yêu cầu của Tòa án, nghĩa là vụ án đã được trả để điều tra bổ sung nhưng không thực hiện được. Tòa án tự mình tiến hành một số hoạt động điều tra và khi đó trách nhiệm hoàn toàn thuộc về Tòa án. Tác giả cho rằng quy định này chưa thật phù hợp bởi sự không tách bạch rõ ràng chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng; vụ án hình sự có thể do cả Cơ quan điều tra, VKSvà Tòa án tiến hành điều tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ. Và như vậy là đã có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng.

5.1.4. Thành phần Hội đồng xét xử (Điều 254)

Quy định về thành phần Hội đồng xét xử có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Đối với vụ án có bị cáo bị đưa ra xét xử về tội mà BLHS có quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm (Điều 185 BLTTHS năm 2003 chỉ quy định đối với vụ án mà bị các bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình).

Hai là: Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ gồm ba Thẩm phán mà không quy định như quy định tại Điều 244 BLTTHS năm 2003 “ trong trường hợp cần thiết có thể thêm hai Hội thẩm ”.

Quy định tại Điều này có một số thiếu sót sau:

Đoạn 2 khoản 1 thiếu hẳn một cụm từ “bị đưa ra xét xử”. Đúng ra câu này phải viết là: “Đối với vụ án có bị cáo bị đưa ra xét xử về tội…”

Quy định của khoản 1 điều luật này không chính xác: “đối với vụ án có bị cáo về tội (bị đưa ra xét xử về tội) mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm”.

Một tội phạm có thể nhiều khung hình phạt, khung tăng nặng nhất dù thiết kế của  điều luật là khoản 1 hay khoản cuối có quy định mức hình phạt tù chung thân, tử hình thì vẫn có khung hình phạt khác không quy định hai hình phạt nặng nhất này. Nếu quy định như điều luật thì có thể hiểu là vụ án mà có bị cáo bị đưa ra xét xử về tội có khung hình phạt tù chung thân, tử hình là Hội đồng xét xử phải có 05 người.

Lẽ ra, nhà làm luật phải kế thừa quy định của Điều 185 BLTTHS năm 2003 quy định rõ và chính xác là: “Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là…”. Tức là chỉ trường hợp bị cáo bị đưa ra xét xử theo khung hình phạt có mức hình phạt cao nhất là tử hình (nay là tù chung thân, tử hình) thì Hội đồng xét xử mới gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.

5.1.5. Phòng xử án (Điều 257)

Cách bố trí  chỗ ngồi của Viện kiểm sát, Thư ký Tòa  án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi  ích hợp pháp của người bị hại, đương sự  như hiện nay không bảo đảm tính công bằng và  không thể hiện được nguyên tắc tranh tụng trong xét xử dù đó chỉ là sự thể hiện về hình thức. Vấn đề này gây tranh cãi nhiều năm và ngay cả khi xây dựng BLTTHS. Chúng tôi hy vọng rằng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ ban hành quy định chi tiết về vấn đề này để bảo đảm sự bình đẳng giữa đại diện VKSthực hành quyền công tố tại Tòa án với luật sư, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng khác. Trong một bài viết đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao “Một số ý kiến về Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự” chúng tôi đã đề cập vấn đề này và đề xuất mô hình vị trí ngồi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, Luật sư, người bảo chữa, người tham gia tố tụng và mong rằng đó là ý kiến được TAND tối cao tham khảo.

5.1.6. Bản án (Điều 260)

Điều luật này quy định về địa vị và tính pháp lý của bản án. Chỉ có Tòa án mới được ra bản án nhân danh nước CHXHCN Việt Nam. Bản án chỉ hợp pháp khi tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử ký.

Hình thức và nội dung của bản  án sơ thẩm phải tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều này; hình thức và nội dung của bản án phúc thẩm phải tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều này.

Theo quy định tại  điểm d khoản 1 Điều 367 BLTTHS năm 2015 “ thủ  tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành ” thì:

“d, Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước”. Đây là quy định kế thừa quy định tại Điều 258 BLTTHS năm 2003. Tại Phụ lục 1 về Mẫu bản án hình sự sơ thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003, có hướng dẫn ở điểm 27 “quyết định”: “- Quyền kháng cáo đối với bản án”. Đối với bị cáo bị xử phạt tử hình thì cần ghi thêm: “nếu họ không kháng cáo, thì họ có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết hạn kháng cáo”.

Mẫu bản án hình sự phúc thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết số  05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của BLTTHS năm 2003 không có hướng dẫn về quyền được xin ân giảm hình phạt tử hình của người bị kết án.

Điều 260 BLTTHS năm 2015 cũng không có quy định về quyền này của người bị kết án tử hình. Về mặt lý thì bản án hình sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm không phải tuyên quyền này và Hội đồng xét xử chỉ phổ biến cho bị cáo biết sau khi đã tuyên án. Chúng tôi cho rằng đây cũng là một thiếu sót trong quy định của điều luật. Việc người bị kết án tử hình làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình chỉ xảy ra trong hai trường hợp:

Một là: Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

Hai là: Vụ án có kháng cáo, kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng hình phạt tử hình đối với người bị kết án (có thể là không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên hình phạt tử hình hoặc chấp nhận kháng cáo, kháng nghị để sửa bản án sơ thẩm, phạt tử hình đối với bị cáo). Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án và người bị kết án tử hình được quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước để xin ân giảm hình phạt tử hình.

Đây là một quy định hết sức quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền được sống của con người mà pháp luật quy định cho người bị kết án tử hình. Chúng tôi cho rằng quyền này của họ phải được ghi rõ, tuyên rõ trong bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm chứ không thể chỉ phổ biến hay hướng dẫn giải thích sau khi tuyên án được và vấn đề này lẽ ra phải được quy định rất cụ thể trong Điều 260 BLTTHS để tránh bị bỏ sót khi soạn thảo bản án. Không thể thi hành hình phạt tử hình nếu người bị kết án không được biết, chưa được thực hiện quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước để xin ân giảm hình phạt tử hình.

5.1.7. Kiến nghị sửa chữa thiếu sót, vi phạm trong công tác quản lý (Điều 264)

“1. Cùng với việc ra bản án, Tòa án ra kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp cần thiết để khắc phục nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm tại các cơ quan, tổ chức đó. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Tòa án, cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị của Tòa án, cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị phải thông báo cho bằng văn bản cho Tòa án biết về những biện pháp được áp dụng”.

Quy định của điều luật này tương tự như quy định tại Điều 6 “Phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội” của BLTTHS năm 2015. Tòa án cũng là một trong các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và theo quy định tại Điều 6 thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị thì các cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Điều 6 BLTTHS là quy định chung, lẽ ra Điều 264 cũng phải quy định thời hạn trả lời (hoặc thông báo) của cơ quan, tổ chức hữu quan đối với kiến nghị của Tòa án cũng phải trong thời hạn là 15 ngày chứ không được quy định là 30 ngày vì không phù hợp với quy định chung của Điều 6.

5.2. Chương XXI Xét xử sơ thẩm

5.2.1. Mục I: Thẩm quyền của Tòa án các cấp.

-  Thẩm quyền xét xử của Tòa án (Điều 268)

Về cơ bản, thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực, TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu được kế thừa quy định của Điều 170 BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 có bổ sung quy định của TAND cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực không có thẩm quyền xét xử đối với “Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam”.

Thẩm quyền xét xử  của TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu được quy định cụ thể là:

“2. TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:

a) Vụ án hình sự về các tôi phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự  khu vực;

b) Vụ án hình sự  có bị cáo, bị hại, đương sự ở  nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài.

c) Vụ án hình sự  thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người”.

Các quy định ở  điểm c khoản 2 là những trường hợp mà trước đây TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu lấy lên để xét xử mặc dù thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực. Theo quy định mới này thì các vụ án quy định quy định tại điểm c khoản 2 Điều này thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu mà không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nữa. Vì vậy khi thụ lý vụ án, nếu xét thấy có các căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều này thì TAND cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực phải trả hồ sơ vụ án cho VKS đã truy tố theo quy định tại khoản 1 Điều 274 của Bộ luật này.

Ngoài quy định về  thẩm quyền xét xử theo cấp Tòa án quy định tại  Điều 268 nêu trên, BLTTHS năm 2015 kế thừa các quy định của BLTTHS năm 2003 về thẩm quyền theo lãnh thổ (Điều 269); thẩm quyền xét xử tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của nước CHXH Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam (Điều 270); việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các Tòa án khác cấp (Điều 271), BLTTHS quy định cụ thể về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

- Thẩm quyền xét xử  của Tòa án quân sự (Điều 272)

1. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử

a. Vụ án hình sự mà bị  cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân;

b. Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự  hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.

2. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả các tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật.

- Việc xét xử bị  cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của TAND và Tòa án quân sự (Điều 273)

Điều luật này phân định rõ thẩm quyền xét xử của Tòa án trong trường hợp bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội thuộc thẩm quyền của TAND, có tội thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự.

- Nếu có thể tách được vụ  án thì Tòa án quân sự xét xử những bị  cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự, TAND xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND.

- Nếu không tách được vụ án thì  Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ  án.

- Chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử (Điều 274)

Theo quy định tại Điều 174 “chuyển vụ án” của BLTTHS năm 2003 thì khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử. Điều 274 BLTTHS năm 2015 quy định:

“1. Khi vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho VKS đã truy tố để chuyển đến VKS có thẩm quyền truy tố”.

Nếu VKS xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì VKS chuyển lại hồ sơ vụ án cho Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do; nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử thực hiện theo Điều 275 của Bộ luật này. VKS phải thực hiện theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền.

5.2.2. Mục II. Chuẩn bị  xét xử

- Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án (Điều 276) BLTTHS năm 2003 chưa quy định cụ thể về việc nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án nên việc nhận hồ sơ vụ án thường nhầm lẫn với việc thụ lý vụ án mặc dù đây là hai hoạt động khác nhau. Nhận hồ sơ vụ án do VKS chuyển giao là để Toà án kiểm tra xem các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đầy đủ, có đúng so với bảng kê tài liệu của hồ sơ vụ án hay không, bản cáo trạng đã được giao hợp pháp cho bị can, người đại diện của bị can không. Nếu không đầy đủ hoặc không đúng (bảng kê là tài liệu A nhưng hồ sơ lại là tại liệu B) thì Tòa án chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu VKS bổ sung. Nếu đã đầy đủ thì Tòa án nhận hồ sơ vụ án và thụ lý ngay vụ án đó. BLTTHS năm 2015 đã phân định rõ hai hoạt động này của Tòa án. BLTTHS cũng không quy định cụ thể thời hạn nhận hồ sơ vì không thể quy định được khi có hồ sơ vụ án đơn giản, ít bút lục Tòa án có thể kiểm tra nhanh, nhận và thụ lý ngay, nhưng có hồ sơ vụ án quá nhiều bút lục, sắp xếp trong rất nhiều tập của hồ sơ thì Tòa án cần phải có thời gian kiểm tra kỹ, thận trọng, tránh được những sai sót mà sau khi nhận, thụ lý vụ án rồi mới phát hiện ra và phải trả hồ sơ cho VKS, vừa mất thêm thời gian giao nhận lại, vừa kéo dài việc giải quyết vụ án.

Điều luật cũng bổ sung quy định “Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án”. Đây là quy định mới nhằm bảo đảm việc xét xử kịp thời, nhanh chóng vụ án trong thời hạn luật định.

- Thời hạn chuẩn bị  xét xử ( Điều 277)

Trong thời hạn 30 ngày đối với tội ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung

c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc  đình chỉ vụ án.

Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn xét xử phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp.

Trường hợp Tòa án thụ lý lại vụ án sau khi đã trả hồ sơ để diều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại (đúng ra là ngày thụ lý lại vì nhận không phải là thụ lý theo quy định tại Điều 276 của Bộ luật này), Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa. Nếu có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa tron thời hạn 30 ngày.

- Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế  (Điều 278 và Điều 347)

Điều 177 và Điều 243 của BLTTHS năm 2003 quy định sau khi nhận hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều phải xem xét áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Điều luật cũng quy định thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Thời hạn chuẩn bị xét xử lại được tính kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án. Quy định này là một vướng mắc vì nhận hồ sơ vụ án khác với thụ lý hồ sơ vụ án. BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi về nhận hồ sơ, bản cáo trạng và thụ lý vụ án nên quy định về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế cũng được sửa đổi cho phù hợp. Đó là:

“Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định”.

Trong quá trình xây dựng BLTTHS, có một số ý kiến cho rằng cần mở rộng thẩm quyền, quyền hạn cho Thẩm phán khi quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam vì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền cùng với Hội đồng xét xử xử phạt đến tử hình và việc Thẩm phán phải báo cáo, đề xuất với Chánh án, Phó Chánh án để áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam nhiều khi chỉ là hình thức. Tuy nhiên, những ý kiến này không được chấp nhận vì biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến bị cáo khi hạn chế quyền tự do của họ nên cần hết sức thận trọng, cần phải có sự kiểm tra của Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án hoặc phải thông qua quyết định của Hội đồng xét xử.

- Giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa ( Điều 279)

Chuẩn bị xét xử  là giai đoạn rất quan trọng để bảo đảm cho phiên tòa có kết quả tốt. Trong giai đoạn này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết những yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ, triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa.

Giải quyết đề nghị của bị  cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc xét xử theo thủ tục rút gọn, xử công khai hoặc xử kín.

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ  giải quyết những yêu cầu, đề nghị thuộc thẩm quyền của mình. Những đề nghị, yêu cầu không thuộc thẩm quyền thì phải báo cáo, đề xuất Chánh án, Phó Chánh án giải quyết. Chẳng hạn như yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, yêu cầu, đề nghị áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam, bắt buộc chữa bệnh, áp dụng thủ tục rút gọn, xử lý vật chứng… Những yêu cầu, đề nghị được chấp nhận hoặc không được chấp nhận đều phải thông báo cho người có yêu cầu, đề nghị biết. Trường hợp không chấp nhận thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do không chấp nhận yêu cầu, đề nghị.

- Trả hồ sơ  đề điều tra bổ sung (Điều 280)

+ Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết  định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung nếu có các căn cứ quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 Điều này. Ngoài các căn cứ đó, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa còn có thể ra quyết định trả hồ sơ cho VKS nếu xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà VKStruy tố (Khoản 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015). Lẽ ra khoản 1 Điều này phải có quy định dẫn chiếu khoản 3 Điều 298 Bộ luật này thì bảo đảm chặt chẽ và chính xác, đầy đủ các trường hợp mà Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung hoặc để thay đổi tội danh nặng hơn.

+ Khoản 2 Điều này quy định “Trường hợp VKS phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì VKS có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ”. Thực ra, đây là trường hợp VKS xin rút hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung. Điều luật không quy định cụ thể việc giải quyết đề nghị này của VKS. Hồ sơ vụ án đang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của VKS thuộc thẩm quyền của Tòa án. Chúng tôi cho rằng nếu Tòa án xét thấy đề nghị của VKS không có căn cứ thì có thể không chấp nhận và vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung, không phải là cứ có đề nghị của VKS thì Tòa án phải trả hồ sơ vụ án.

Điều luật cũng không quy định trường hợp VKS phát hiện tội danh nặng hơn tội danh mà mình đã truy tố thì đề nghị Tòa án trả hồ sơ, lẽ ra luật cũng nên có quy định này tương tự như đề nghị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì đầy đủ hơn, chặt chẽ hơn.

+ Khoản 3 Điều này quy định cụ thể: quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung (thiếu chứng cứ dùng để chứng minh, còn hành vi phạm tội khác chưa truy tố, có đồng phạm khác hoặc có người khác phạm tội nhưng chưa khởi tố, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, tội danh nặng hơn) và gửi cho VKS cùng hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định. Đây là những quy định trong trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chủ động trả hồ sơ vụ án. Trường hợp chấp nhận đề nghị trả hồ sơ của VKS thì Tòa án không cần phải thực hiện quy định này.

Các vấn đề về  kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc  đình chỉ vụ án quy định tại Điều này, thực ra đã quy định tại Điều 246 “giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án” và chúng tôi đã nêu khi trình bày về điều luật này. Lẽ ra không cần quy định lại vấn đề này trong Điều luật này. Đối với trường hợp VKS không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án. Quy định này không thật chính xác vì nếu VKS không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung thì cũng có thể là Tòa án tiến hành xét xử vụ án hoặc Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 6 Điều 252 của Bộ luật này. Do đó, lẽ ra điều luật phải quy định là: “Trường hợp VKS không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án hoặc tiến hành xét xử vụ án”.

- Phục hồi vụ án (Điều 283)

Phục hồi vụ án là trường hợp Thẩm phán xét thấy khi có lý  do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thẩm phán  đã ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án có thẩm quyền ra quyết định phục hồi vụ án. Nếu Thẩm phán này không thể thực hiện được (do chuyển công tác, do đã nghỉ hưu…) thì Chánh án Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.

Khi phục hồi vụ  án, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung do BLTTHS quy định.

- Yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ (Điều 284)

Đây là một quy định mới BLTTHS, được Tòa án áp dụng trong trường hợp xét thấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án nhưng không phải ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung. Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ phải bằng văn bản và gửi cho VKS cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra văn bản yêu cầu. VKS phải gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày. Nếu VKS không bổ sung được tài liệu, chứng cứ thì phải thông báo cho Tòa án biết. Tòa án có thể xác minh, thu thập các tài liệu, chứng cứ đó hoặc tiến hành xét xử vụ án (tương tự như việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung như đã nêu tại Điều 280).

- VKS rút quyết định truy tố ( Điều 285)

“Trước khi mở phiên tòa, VKS có quyền rút quyết định truy tố nếu xét thấy có căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại các Điều 16, 29 và khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án”.

Quy định này theo chúng tôi có những vấn đề cần phải làm rõ:

Một là: Điều luật không quy định cụ thể trường hợp Tòa án chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị đình chỉ vụ án của VKS. Tòa án phải căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 1 Điều 282 “Đình chỉ vụ án” của Bộ luật TTHS để ra quyết định đình chỉ vụ án.

Hai là: Điều luật viện dẫn các căn cứ để VKS rút quyết định truy tố. Chúng tôi đồng tình với trường hợp không có căn cứ khởi tố vụ án quy định tại Điều 157 BLTTHS năm 2015. Đối với trường hợp quy định tại Điều 16, Điều 29 và khoản 2 Điều 91 của BLHS năm 2015 thì còn có những vướng mắc khi áp dụng vì những lý do sau đây:

+ Điều 29 BLHS quy định các căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự. Điều 29 BLHS quy định đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 1) và có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2). Khi hồ sơ vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án và nếu xét thấy có các căn cứ quy định tại Điều 29 BLHS thì Tòa án phải xét xử và tuyên miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo chứ không phải là đình chỉ vụ án và tuyên bị cáo không phạm tội. Miễn trách nhiệm hình sự hoàn toàn khác với đình chỉ vụ án. Do vậy, điều luật quy định VKS rút quyết định truy tố, đề nghị Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án là không đúng quy định của pháp luật. Tòa án không thể ra quyết định đình chỉ vụ án trong trường hợp miễn trách nhiệm hình sự.

+ Điều 91 BLHS quy định nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo khoản 2 như sau:

“2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:”… Tòa án cũng không thể ra quyết định đình chỉ vụ án được vì người phạm tội dưới 18 tuổi chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự và bị Tòa án áp dụng các biện pháp quy định ở Mục 2 Chương XII (khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn)

Cơ quan điều tra, VKS có thể ra quyết định đình chỉ vụ án khi có căn cứ tại Điều 16, Điều 29 và khoản 2 Điều 91 BLHS không? Chúng tôi cho rằng chỉ có thể ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự chứ không thể là đình chỉ vụ án vì các điều luật này đều quy định miễn trách nhiệm hình sự chứ không phải là đình chỉ vụ án. Nếu luật quy định là miễn trách  nhiệm hình sự thì phù hợp hơn.

- Giới hạn xét xử (Điều 298)

Điều 196 BLTTHS năm 2003 quy định giới hạn xét xử, theo đó Tòa án chỉ xét xử những bị cáo mà VKS đã truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Tòa án chỉ xét xử những hành vi theo tội danh mà VKS đã truy tố. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo điều khoản khác với điều khoản mà VKS truy tố trong cùng một điều luật hoặc về tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà VKS đã truy tố. Tòa án không được xét xử về tội danh nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố.

Quy định này là một quy định gây nhiều tranh cãi trong rất nhiều năm qua, có nhiều ý kiến không đồng tình và thực tiễn đã chứng minh rằng việc Tòa án không được xét xử theo tội danh nặng hơn tội danh mà VKS truy tố đã làm cho công tác xét xử thiếu khách quan, toàn diện và dẫn tới xét xử sai, do vi phạm nguyên tắc Hiến định: Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Hiến pháp 2013, Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp, có quyền yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ, có quyền kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, Tòa án có quyền phán quyết việc bị cáo phạm tội gì, dù đó là tội bằng, nhẹ hơn hay nặng hơn tội danh mà VKS truy tố mà hoàn toàn không bị giới hạn hay lệ thuộc vào việc truy tố của VKS.

Điều 298 BLTTHS năm 2015 quy định:

“1. Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

2. Tòa án có thể xét xử  bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS truy tố.

3. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố thì Tòa án trả hồ sơ yêu cầu VKS truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”.

Chúng tôi cho rằng đây là một quy định mới, tháo gỡ vướng mắc trong xét xử của Tòa án và phù hợp Hiến pháp cũng như tinh thần cải cách tư pháp, bảo đảm được nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự: Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên, khi xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn thì Tòa án phải tuân thủ các quy định của khoản 3 Điều này. Đối với quy định Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố (khoản 2 Điều này). Nếu khoản mà Tòa án áp dụng để xét xử nhẹ hơn thì tương tự trường hợp xét xử theo tội danh bằng hoặc nhẹ hơn, nhưng nếu khoản mà Tòa án áp dụng nặng hơn khoản mà VKS truy tố thì giải quyết thế nào đối với trường hợp:

+ Khoản mà Tòa án xét xử nặng hơn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án. Tòa án có phải thông báo rõ lý do cho bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa không vì đây là trường hợp bất lợi cho bị cáo. Điều luật không quy định về vấn đề này, nhưng chúng tôi cho rằng để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo thì Tòa án phải thông báo cho họ biết lý do có thể bị xét xử theo khoản nặng hơn để bị cáo, người đại diện hoặc luật sư, người bào chữa biết và chuẩn bị việc bào chữa.

+ Khoản mà Tòa án xét xử nặng hơn không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án thì Tòa án phải trả hồ sơ VKS để thực hiện theo quy định tại Điều 274 của Bộ luật này.

5.2.3. Mục III. Quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa

- Sự có mặt của những người tiến hành tố tụng (các Điều 288, 289)

Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng xét xử, Thư  ký Tòa án, Kiểm sát viên. Trường hợp người tiến hành tố tụng vắng mặt mà không có người dự khuyết để thay thế thì phải hoãn phiên tòa. Nếu vắng Thư ký Tòa án hoặc bị thay đổi thì tạm ngừng phiên tòa nếu không có Thư ký Tòa án dự khuyết. Những người tiến hành tố tụng, kể cả những người dự khuyết phải có mặt tại phiên tòa từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Người tiến hành tố tụng dự khuyết không có mặt theo dõi phiên tòa từ đầu đến khi được thay thế thì họ không được thay thế để tiến hành tố tụng tại phiên tòa.

- Sự có mặt của những người tham gia tố tụng (các Điều 290, 291, 292, 293, 294, 295)

BLTTHS năm 2015 quy định rất chặt chẽ sự có mặt của bị cáo, người bào chữa tại phiên tòa. Bị cáo phải có  mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án trong suốt thời gian xét xử vụ án; nếu vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị áp giải, nếu vắng mặt có các lý do này thì phải hoãn phiên tòa; nếu bị cáo bị tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh; nếu bị cáo trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo.

Người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa để bào chữa, nếu vắng mặt vì lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Tòa án hoãn phiên tòa trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt không có lý do nêu trên và đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Trường hợp chỉ  định người bào chữa theo khoản 1 Điều 76 BLTTHS mà  người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.

- Trong quá trình xét xử, khi thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ  án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án (Điều 296). Tuy nhiên, Điều tra viên, người có thẩm quyền tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác tham dự phiên tòa với tư cách gì thì luật không quy định vì họ không phải là người tham gia tố tụng, cũng không còn là người tiến hành tố tụng nữa.

- Hoãn phiên tòa (Điều 297)

Tòa án (đúng ra là Hội đồng xét xử) chỉ có thể ra quyết định hoãn phiên tòa khi có các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này. Thời gian hoãn phiên tòa sơ  thẩm không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa ký thay mặt Hội đồng xét xử. Chủ tọa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa phải được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa, gửi cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

- Việc ra bản án, quyết  định của Tòa án ( Điều 299)

“1. Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị  án.

2. Quyết định về  việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa, bắt tạm giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và được lập thành văn bản.

3. Quyết định các vấn đề khác được Hội đồng xét xử  thảo luận và thông qua tại phòng xử án và không phải lập văn bản nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa.”

Trong thực tiễn xét xử  quyết định bắt tạm giam hoặc trả tự do cho bị cáo chỉ được Hội đồng xét xử  thảo luận và thông qua khi nghị án tại phòng nghị  án. Các quyết định này được ghi trong biên bản nghị án tức là đã được lập thành văn bản. Do đó quyết định bắt tạm giam hoặc trả tự do cho bị cáo không cần thiết phải lập thành văn bản khác nữa. Các quyết định khác phải lập thành văn bản vì đó không phải là những trường hợp Hội đồng xét xử nghị án.

5.2.4 Mục IV. Thủ tục bắt đầu phiên tòa

Về cơ bản, BLTTHS năm 2015 kế thừa quy định của BLTTHS năm 2003 về các thủ tục bắt đầu phiên tòa như  chuẩn bị khai mạc phiên tòa, khai mạc phiên tòa, giải quyết đề nghị thay đổi người tiến hành tố  tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, giải quyết yêu cầu về triệu tập thêm người tham gia tố tụng, đưa thêm tài liệu, vật chứng để xem xét tại phiên tòa, giải quyết việc yêu cầu hoãn phiên tòa khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa.

BLTTHS bổ sung thêm quy định “Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản”. Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu những người này cam đoan làm tròn nhiệm vụ của mình (Điều 303).

BLTTHS cũng bổ sung quy định “Cam đoan của người làm chứng, cách ly người làm chứng”. Người làm chứng phải cam đoan khai trung thực và chủ tọa phiên tòa có thể quyết định áp dụng biện pháp cách ly người làm chứng nếu xét thấy lời khai của bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau.

Thực ra, những quy định này không phải hoàn toàn mới vì đã quy định trong BLTTHS năm 2003 nhưng không thành điều luật riêng biệt. Quy định thành điều luật riêng về vấn đề cam đoan nhằm bảo đảm rõ ràng, minh bạch và  khách quan cũng như khẳng định trách nhiệm của những người tham gia tố tụng nêu trên.

5.2.5. Mục V. Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa

Trình tự xét hỏi tại phiên tòa là một trong những biểu hiện rõ  rệt nhất của mô hình thẩm vấn của tố tụng hình sự. BLTTHS năm 2015 đã khẳng định mô hình thẩm vấn và tranh tụng rõ rệt trong Mục V “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa”. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi và quyết định việc hỏi người nào trước, hỏi người nào sau. Luật không quy định phải hỏi ai trước, hỏi ai sau. Việc quyết định hỏi ai trước, ai sau tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể do chủ tọa phiên tòa quyết định sao cho việc xét hỏi có hiệu quả nhất.

Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước, Hội thẩm hỏi sau. Nếu Hội đồng xét xử  gồm 05 người thì Thẩm phán là thành viên Hội  đồng xét xử hỏi sau chủ tọa và trước Hội thẩm. Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.

Điểm mới của quy định này là những người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết để làm sáng tỏ. Bị cáo có quyền đặt câu hỏi với bị báo khác, bị hại, đương sự, người làm chứng, người đại diện của họ về những vấn đề liên quan đến vụ án nếu được chủ tọa phiên tòa đồng ý (Các điều 307, 309, 210, 311). Trong quá trình xét hỏi Hội đồng xét xử có thể thực hiện việc xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh, có thể nghe trình bày của đại diện cơ quan, tổ chức, có thể hỏi người định giá tài sản, người giám định, yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Đây là một quy định mới của BLTTHS nhằm bảo đảm tính khách quan, trung thực, đúng đắn trong hoạt động tiến hành tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đồng thời cũng thể hiện rõ tính dân chủ, nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong xét xử.

- Trình tự phát biểu khi tranh luận ( Điều 320).

Quy định của BLTTHS về tranh luận tại phiên tòa là biểu hiện rõ rệt của mô hình tố tụng tranh tụng và là sự khẳng định mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là  mô hình tố tụng pha trộn (đan xen) của mô  hình thẩm vấn và mô hình tranh tụng.

Về cơ bản, trình tự tranh luận tại phiên tòa được kế thừa quy định của BLTTHS năm 2003 nhưng để đảm bảo quyền tự bào chữa của bị cáo, điều luật này có sửa trình tự bào chữa:

“2. Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa”.

(BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa phát biểu lời trình bày bào chữa, bị cáo bổ  sung ý kiến bào chữa).

Điều luật này bổ sung khoản 4 “Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội”.

- Tranh luận tại phiên tòa (Điều 322)

BLTTHS năm 2015 không quy định việc đối đáp tại phiên tòa trong phần tranh luận thành một điều riêng mà quy định trong điều luật này. Sau khi Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội theo quy định tại Điều 321 thì bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu, các lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về tất cả những ý kiến luận tội của Kiểm sát viên và có quyền đưa ra đề nghị của mình.

Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tại liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến này nếu như Kiểm sát viên chưa tranh luận.

Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị  hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.

Trong phần tranh luận, Hội đồng xét xử không được đặt câu hỏi. Chủ tọa phiên tòa phải điều hành phần tranh luận đúng trình tự luật định. Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi chép đầy đủ ý kiến của các bên tham gia tranh luận, các tài liệu, chứng cứ được đưa ra để tranh luận, các lập luận của các bên để có cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện và xác định sự thật của vụ án. Có như vậy thì Hội đồng xét xử mới có thể nhận định chấp nhận hay không chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác và đưa ra được lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quá trình thảo luận nghị án và thể hiện trong bản án.

- Trở lại việc xét hỏi

Mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam là mô hình pha trộn nhưng xét hỏi vẫn được coi là trọng tâm của phiên tòa. Mọi vấn đề chưa được xét hỏi, chưa được thẩm tra tại phiên tòa thì không được tranh luận, không được phán quyết trong bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, BLTTHS năm 2015 vẫn kế thừa quy định trở lại việc xét hỏi của BLTTHS năm 2003 và vẫn được quy định tại các Điều 323, 324 điểm b khoản 6 Điều 326 của Bộ luật này. Trở lại việc xét hỏi được thực hiện (hoặc phải được thực hiện) khi qua tranh luận mà thấy còn có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi, chưa làm sáng tỏ; khi trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án và khi Hội đồng xét xử nghị án xét thấy còn có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi, chưa được làm sáng tỏ.

Trở lại việc xét hỏi là việc Hội đồng xét xử hỏi để làm rõ những vấn đề chưa được xét hỏi, những vấn đề đã xét hỏi, đã làm rõ rồi thì không hỏi lại. Sau khi xét hỏi xong các vấn đề cần làm sáng tỏ thì tiếp tục chuyển sang tranh luận. Trình tự tranh luận theo quy định chung, nhưng chỉ tranh luận về các vấn đề trở lại xét hỏi, những vấn đề đã tranh luận trước đó không tranh luận lại nữa.

Những quy định nêu trên là sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15), nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo (Điều 26), quy định về bản án (Điều 260) và quy định về nghị án (Điều 326) của BLTTHS năm 2015.

- Xem xét việc rút quyết  định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa (Điều 325)

“1. Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án”.

Điểm c khoản 1 Điều 266 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử như sau:

“c. Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa”.

Như vậy, Kiểm sát viên có thể kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS truy tố. Theo quy định của Điều này thì Kiểm sát viên chỉ được kết luận về tội nhẹ hơn và Tòa án chỉ xem xét về kết luận này mà thôi. Quy định của hai điều luật rõ ràng là có mâu thuẫn và chúng tôi cho rằng Điều 325 đã bỏ sót quyền kết luận về tội bằng tội mà VKS truy tố. Giả sử, tại phiên tòa, Kiểm sát viên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 266 Kết luận về tội bằng tội VKStruy tố thì Tòa án có xem xét không?

Theo quy định tại  Điều 298 BLTTHS thì Tòa án có quyền xét xử  tội bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố. Vì vậy, chúng tôi cho rằng Tòa án có quyền xem xét kết luận của Kiểm sát viên về tội bằng tội mà VKSđã truy tố, mặc dù Điều luật này thiếu sót khi không quy định vấn đề này.

Đối với trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ truy tố thì trước khi nghị án Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó. Hội đồng xét xử giải quyết vấn đề này theo quy định tại khoản 4 Điều 326  về Nghị án.

5.2.6. Mục VI. Nghị án và tuyên án

- Nghị án (Điều 326)

Nghị án là một hoạt động tố tụng mà chỉ có Hội đồng xét xử mới là chủ thể duy nhất thực hiện. Chỉ Thẩm phán, Hội thẩm là thành viên của Hội  đồng xét xử mới có quyền nghị án. Việc nghị án phải được tiến hành tại phòng nghị  án. Khi Hội đồng xét xử nghị án thì không ai được quyền tham dự, kể cả Chánh án Tòa án và cũng không ai được quyền can thiệp vào việc nghị án. Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi nghị án để đưa ra các phán quyết về vụ án. Chủ tọa phiên tòa chủ trì việc nghị án, có trách nhiệm đưa từng vấn đề của vụ án phải giải quyết để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định. Chủ tọa phiên tòa có thể phân công một thành viên của Hội đồng xét xử hoặc tự mình ghi biên bản nghị án. Tất cả các vấn đề phải giải quyết đều phải thảo luận và biểu quyết theo đa số. Khi thảo luận và biểu quyết, Hội thẩm phát biểu và biểu quyết trước, Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết sau và Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa phát biểu, biểu quyết cuối cùng (đối với trường hợp Hội đồng xét xử gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm). Nếu Hội đồng xét xử gồm 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm thì Hội thẩm phát biểu, biểu quyết trước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phát biểu và biểu quyết sau.

Trong trường hợp không có ý kiến  đa số thì chủ tọa phiên tòa phải cho thảo luận lại vấn đề đó và biểu quyết lại để lấy ý kiến đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu trong hồ sơ vụ án.

Trong thực tiễn cũng có thể xảy ra trường hợp sau khi thảo luận, biểu quyết nhiều lần nhưng không có ý kiến đa số, tức là không thể tuyên án được. Trường hợp này Tòa án cũng không thể hoãn phiên tòa, tạm ngừng phiên tòa vì cả hai quyết định này đều không có căn cứ theo quy định của pháp luật. Mặc dù đây là trường hợp rất hãn hữu nhưng không có nghĩa là không xảy ra và khi xảy ra thì Luật lại không quy định thủ tục giải quyết thế nào.

Nếu gặp trường hợp “khó xử” này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nên cân nhắc xem ý kiến nào hợp lý hơn, đúng hơn (dù là  chưa hẳn là đúng) thì biểu quyết theo ý kiến đó để có ý kiến đa số và quyết định theo đa số. Sau khi tuyên án, nếu thấy việc xét xử không đúng thì báo cáo Chánh án Tòa án để kiến nghị nhằm giải quyết vụ án đúng pháp luật.

Việc nghị án chỉ được căn cứ  vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác.

Xem xét tài liệu, chứng cứ tức là  đánh giá chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong quá trình điều tra hoặc được xuất trình tại phiên tòa. Trước hết chứng cứ tài liệu đó có hợp pháp không, có được dùng để chứng minh trong vụ án không, tính trung thực của chứng cứ, tài liệu, đó là một vấn đề rất quan trọng đặt ra khi nghị án. Đánh giá sai, sử dụng sai chứng cứ, tài liệu thì chắc chắn sẽ xét xử sai.

Theo chúng tôi, ngoài các vấn đề xác  định có hay không có căn cứ kết tội bị  cáo, điểm, khoản, điều của BLHS được áp dụng (kể cả trường hợp có tội và không có tội); vấn đề hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, án phí, xử lý vật chứng…(Các vấn đề quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g khoản 3 Điều này), thì một số vấn đề quan trọng khác mà điều luật chưa đề cập đến nhưng trong thực tiễn xét xử, khi nghị án Hội đồng xét xử vẫn phải và buộc phải thảo luận và quyết định; đó là:

- Có sự việc phạm tội xảy ra hay không (có hành vi phạm tội xảy ra hay không) thời gian, địa điểm xảy ra sự việc phạm tội. Nếu không có sự việc phạm tội xảy ra, không có hành vi phạm tội xảy ra thì không có vụ án và đó là căn cứ để Tòa án đình chỉ vụ án và tuyên bị cáo không phạm tội.

- Hành vi của bị cáo bị VKS truy tố có cấu thành tội phạm không? Nếu không cấu thành tội phạm thì Tòa án phải đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không phạm tội.

- Nếu có sự việc phạm tội xảy ra, có hành vi phạm tội xảy ra thì ai là người tạo ra sự việc phạm tội và thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội đó vi phạm điểm, khoản, điều nào của BLHS. Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đó như thế nào. Có tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự không, nhân thân của bị cáo.

- Nếu không có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt thì Hội  đồng xét xử thảo luận về hình phạt, biểu quyết về hình phạt; thảo luận và biểu quyết về biện pháp chấp hành hình phạt nếu Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù (có cho bị cáo được hưởng án treo hay không).

- Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định về hình phạt bổ sung nếu như  điều luật có quy định về hình phạt bổ sung; thảo luận, quyết định về việc có áp dụng hay không áp dụng các biện pháp tư pháp; bắt tạm giam hoặc trả tự do cho bị cáo… Đó là những vấn đề quan trọng nếu không nói là rất cơ bản mà Hội đồng xét xử phải thực hiện khi nghị án. Đáng tiếc là khoản 3 của Điều 326 “Nghị án” lại bỏ sót nhiều vấn đề rất cơ bản của Tố tụng hình sự trong nghị án.

5.2.7. Một số quy định của BLTTHS năm 2015 để bảo đảm Tòa án thực hiện quyền tư pháp

Tòa án thực hiện quyền tư pháp là một quy định của Hiến pháp năm 2013. Để bảo đảm quyền xét xử và thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, BLTTHS năm 2015 đã có một số bổ sung như sau: 

Thứ nhất: Tòa án có quyền xác minh, thu thập chứng cứ, bổ sung chứng cứ, yêu cầu VKS bổ sung chứng cứ (Điều 252, Điều 284).

Thứ hai: Để cụ thể hóa quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 về Tòa án có quyền kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản pháp luật trái Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, BLTTHS năm 2015 bổ sung Điều 265: Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xét xử, xử lý văn bản pháp luật.

“Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, Tòa án phát hiện và kiến nghị  các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Việc xem xét, trả  lời Tòa án về kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị được thực hiện theo quy định của pháp luật”.

Thứ  ba: BLTTHS bổ sung các quy định cụ thể về thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét, kết luận tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập hoặc do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp (điểm b, g khoản 3 Điều 326); bổ sung quy định tại Điều 317 “Điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến”. Theo đó, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Quy định này cũng liên quan đến quy định trong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án (Điều 296).

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án là người nào? Chúng tôi kiểm tra quy định về cán bộ điều tra của cơ quan điều tra (Điều 38) và quy định về kiểm tra viên (Điều 43) thì những người này không phải là người đã thụ lý, giải quyết vụ án vì họ không có thẩm quyền. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư (Điều 39) hoặc các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân (Điều 40) cũng không thấy quy định về người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án. Cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan này không phải là người đã thụ lý, giải quyết vụ án vì họ là người trực tiếp chỉ đạo hoạt động thụ lý, giải quyết chứ không phải là người thụ lý, giải quyết. Cán bộ điều tra trong các cơ quan này cũng chỉ có quyền lập hồ sơ, hỏi cung, lấy lời khai, tiến hành khám nghiệm hiện trường, thi hành lệnh khám xét, thu giữ, bảo quản vật chứng, tài liệu… Luật cũng không quy định quyền giải quyết vụ án hay thụ lý vụ án vụ thể. Quy định không rõ ràng này sẽ rất khó khăn khi Tòa án (Hội đồng xét xử) cần thiết triệu tập đến phiên tòa. Nếu suy luận thì Tòa án có thể triệu tập cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đến phiên tòa vì những người này là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

5.3. Chương XXII: Xét xử phúc thẩm

5.3.1. Mục I. Tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị

- Tính chất của xét xử phúc thẩm (Điều 330)

“1. Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

2. Quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án  đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án theo quy định của Bộ luật này”.

Như vậy, chỉ phát sinh trình tự, thủ tục tố tụng xét xử phúc thẩm khi bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị hay nói cách khác đó là hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị.

Khoản 2 của điều luật đã quy định sai đối với việc kháng cáo, kháng nghị “Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can”, “Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can”. Hai quyết định này là của VKS chứ không phải là của Tòa án. VKS không thể tự kháng nghị quyết định của mình mà chỉ có thể kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án của Tòa án. Những người tham gia tố tụng cũng không thể kháng cáo, quyết định của VKS mà chỉ có quyền kháng cáo quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án. Đây là sự nhầm lẫn trong điều luật này.

- Người có quyền kháng cáo (Điều 331)

Về cơ bản, BLTTHS năm 2015 kế  thừa quy định về người có quyền kháng cáo của  Điều 231 BLTTHS năm 2003, nhưng có một số bổ  sung và sửa đổi như sau:

Một là: Bổ sung khoản 5:

“5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có ngược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ”.

Quy định này rõ  ràng không đúng với trường hợp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại vì nó trái với quy định tại khoản 1 của  Điều này là “1. Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm”. Người bị hại thuộc đối tượng quy định ở khoản 5 nêu trên có quyền kháng cáo toàn bộ bản án chứ không phải chỉ có quyền kháng cáo về phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của họ. Người bảo vệ quyền và lợi ích của họ cũng có, phải có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định. Quy định tại khoản 5 của Điều này chỉ đúng với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng khác, đương sự khác trong vụ án.

Hai là: Sửa thuật ngữ “người chưa thành niên” thành “người dưới 18 tuổi”; sửa “phần lý do bản án sơ thẩm tuyên là họ không có tội” thành “về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội” (khoản 6 Điều này).

- Thủ  tục kháng cáo (Điều 332)

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền kháng cáo, BLTTHS năm 2015 đã có sửa đổi bổ sung về thủ tục kháng cáo. Thay vì người kháng cáo chỉ được trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm, khoản 1 Điều 332 quy định: “Người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.

Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung”.

- Thời hạn kháng cáo (Điều 333)

+ Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận  được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

+ Thời hạn kháng cáo  đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận  được quyết định.

+ Ngày kháng cáo được xác định theo quy định tại khoản 3 của Điều này.

- Thủ  tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo (Điều 334)

Tòa án phải vào sổ nhận đơn kháng cáo, kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo. Nếu kháng cáo hợp lệ thì Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 338 của Bộ luật này.

Nếu kháng cáo hợp lệ  nhưng nội dung kháng cáo chưa rõ thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ. Nếu kháng cáo đúng quy định nhưng quá thời hạn kháng cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do, xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng. Luật không quy định trường hợp người kháng cáo không nộp đơn kháng cáo mà trực tiếp đến trình bày với Tòa án khi đã hết thời hạn kháng cáo. Chúng tôi cho rằng trường hợp này Tòa án (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) vẫn phải lập biên bản về việc kháng cáo quá hạn và thực hiện như trường hợp nộp đơn kháng cáo quá hạn vì nộp đơn kháng cáo và trình bày trực tiếp về kháng cáo cũng vẫn là kháng cáo và Tòa án phải có trách nhiệm tiếp nhận kháng cáo dù trong thời hạn hay đã hết thời hạn kháng cáo.

Nếu người làm đơn kháng cáo không có quyền kháng cáo thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa  án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho người làm đơn, VKScùng cấp và nêu rõ lý do của việc trả lại đơn. Người kháng cáo bị Tòa án trả lại đơn có quyền khiếu nại trong thời hạn 07 ngày kể từ nhận được thông báo. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ này.

Đây là một quy định mới nhằm bảo đảm quyền kháng cáo của người kháng cáo đúng quy định của pháp luật. Mặc dù khoản 1 của Điều này quy định Tòa án phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định của Bộ luật này nhưng trong Bộ luật lại không có điều luật nào quy định về tính hợp lệ của kháng cáo. Một kháng cáo được coi là hợp lệ phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:

+ Người kháng cáo có  quyền kháng cáo

+ Nội dung kháng cáo không vượt quá quyền kháng cáo

+ Kháng cáo trong thời hạn luật định.

- Kháng cáo quá hạn (Điều 335)

Kháng cáo quá hạn có thể được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo quá hạn, bản tường trình của người kháng cáo quá hạn về lý do kháng cáo quá hạn và các chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm 03 Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng xét kháng cáo quá hạn có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn. Quyết định của Hội đồng xét kháng cáo quá hạn được gửi cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và VKS cùng cấp với Tòa án cấp phúc thẩm.

Nếu Tòa án cấp phúc thẩm nhận kháng cáo quá hạn thì sau khi nhận được quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện các thủ  tục thông báo kháng cáo và gửi hồ sơ vụ  án cho Tòa án cấp phúc thẩm để xem xử.

- Kháng nghị của VKS (Điều 336 và 337)

VKS cùng cấp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và kháng nghị quyết định sơ thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án và kháng nghị quyết định sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Luật không quy định trường hợp kháng nghị quá hạn của VKS và nếu có việc này xảy ra thì kháng nghị của VKS có được coi là hợp lệ hay không và nếu đúng là như vậy thì thật khó giải thích về sự công bằng và bình đẳng trong tố tụng hình sự.

- Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị (Điều 339)

Bản án, quyết  định bị kháng cáo toàn bộ thì chưa có hiệu lực pháp luật và chưa được thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này. Phần bản án, quyết định của Tòa án có kháng cáo, bị kháng cáo, kháng nghị cũng chưa được đưa ra thi hành trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này (bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, phạt tù nhưng cho hưởng án treo, hình phạt không phải hình phạt tù, hình phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam. Tòa án trả tự do ngay cho bị cáo).

Như vậy, phần bản  án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị  có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành (Điều 343)

- Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị (Điều 342)

Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, VKS đã ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị, nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Người kháng cáo có quyền rút một phần kháng cáo hoặc toàn bộ kháng cáo. VKS đã ra quyết định kháng nghị hoặc VKS cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị.

Việc thay đổi, bổ  sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải lập thành văn bản và phải gửi cho Tòa  án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát, bị cáo và người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.

Nếu việc rút một phần kháng cáo hoặc một phần kháng nghị tại phiên tòa mà phần rút kháng cáo, kháng nghị đó không liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử nhận định và quyết định đình chỉ xét xử phần rút kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.

Riêng về phần thông báo việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị của VKS trước khi mở phiên tòa, chúng tôi cho rằng Luật quy định Tòa án cấp phúc thẩm cũng phải thông báo cho VKS là không phù hợp và không cần thiết vì VKS là người bổ sung, thay thế, rút kháng nghị và phải lập văn bản gửi Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm lại phải thông báo trở lại cho VKS là không hợp lý. Trường hợp này Tòa án chỉ thông báo cho những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát. Tòa án cấp phúc thẩm cũng chỉ phải thông báo cho VKS về việc bổ sung, thay thế, rút kháng cáo mới đúng.

5.3.2. Mục II: Thủ tục xét xử phúc thẩm

- Tòa  án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm (Điều 344)

Luật tổ chức Tòa  án nhân dân năm 2014 quy định về thẩm quyền của 04 cấp Tòa án. Để phù hợp với quy định này BLTTHS năm 2015 quy định:

+ Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản  án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị.

+ Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị.

+ Tòa án quan sự  cấp quân khi có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự  khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.

+ Tòa án quân sự  trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản  án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm (Điều 348)

Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm khi người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, VKS rút toàn bộ kháng nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 thì trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ việc rút yêu cầu khởi tố trái ý muốn của họ, do bị ép buộc, cưỡng bức.

Nếu tại Tòa án cấp phúc thẩm, người có yêu cầu khởi tố (có  thể kháng cáo hoặc không kháng cáo, có thể  vụ án bị kháng nghị) nhưng do họ rút yêu cầu khởi tố vụ án thì Tòa án cấp phúc thẩm không thể ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vì bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật. Trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn phải hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 359 thì đây lại không phải là căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm hủy án và đình chỉ vụ án. Rõ ràng, khi sửa đổi khoản 2 Điều 155 BLTTHS, nhà làm Luật đã chú ý bổ sung khoản 8 của Điều 157 nhưng lại quên không bổ sung vào Điều 359 BLTTHS.

Vậy khi gặp trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết thế  nào? Có được căn cứ vào khoản 8 Điều 157 để hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án không? Đây là vấn đề cần phải hoặc là đính chính hoặc là có hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất và đúng pháp luật.

- Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm (Điều 355)

Thẩm quyền của Hội  đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm được kế thừa quy định của BLTTHS năm 2003 và chỉ bổ sung thẩm quyền “Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm” vào quy định của Điều này. Thực ra quy định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đã được BLTTHS năm 2003 quy định tại Điều 238 “Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị”.

- Sửa bản án sơ thẩm (Điều 357)

Điều luật bổ sung quy định:

“1. Khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo hoặc có tình tiết mới thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:…”

Điều luật bổ sung quy định này không chính xác, không đầy đủ, chỗ thừa, chỗ lại thiếu. Cụ thể là:

+ Tòa án cấp sơ  thẩm quyết định hình phạt phải căn cứ vào quy định tại Điều 50 của BLHS năm 2015, tức là chỉ căn cứ vào “quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” Tòa án cấp phúc thẩm phải có căn cứ bản án sơ thẩm đã quyết định hình phạt không đúng quy định của Điều 50 BLHS hoặc có các tình tiết mới phát sinh trong quá trình xét xử phúc thẩm thì mới được thực hiện quyền sửa bản án.

+ Điều 50 BLHS không đúng hậu quả của hành vi phạm tội vì hậu quả  của hành vi phạm tội là thước đo quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Quy định thêm về hậu quả của hành vi phạm tội là thừa và không đúng lý luận về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Về cơ bản, các quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm được kế thừa quy định của BLTTHS 2003 nhưng có sửa điểm e khoản 1:

“e) Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo”. Sửa đổi này sẽ khắc phục được trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù quá nghiêm khắc, không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới tại phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo nhưng Tòa án cấp phúc thẩm vẫn giữ nguyên hình phạt tù và chỉ sửa về biện pháp chấp hành hình phạt.

Khoản 2 của Điều này bổ sung quy định tại điểm d “Không cho bị  cáo hưởng án treo” để giải quyết vướng mắc về  việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa hình phạt từ  phạt tù cho hưởng án treo sang phạt tù (không cho hưởng án treo).

Khoản 2 quy định “Nếu có căn cứ thì Hội đồng xét xử  vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ  nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại”.

Lẽ ra quy định này cũng phải sửa như quy định tại điểm e Khoản 1 Điều này là “Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo” thì vừa tháo gỡ được vướng mắc thong thực tiễn áp dụng pháp luật, vừa đảm bảo tính nhất quán ngay trong cùng một điều luật.

- Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại (Điều 358)

Bản án sơ thẩm bị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy  để điều tra lại khi:

+ Có căn cứ  cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm.

+ Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố. Bản án sơ thẩm bị Hội  đồng xét xử phúc thẩm hủy để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử khác khi thuộc một trong các trường hợp:

+ Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật này quy định.

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử  sơ thẩm.

+ Người được Tòa  án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội.

+ Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư  pháp đối với bị cáo không có căn cứ.

+ Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.

 

Nguyễn Quang Lộc – Nguyên Thẩm phán TAND tối cao

Văn bản mới

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133 - Fax :
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao