Một số sửa đổi, bổ sung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Phần I)

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2004. Qua hơn 10 năm thực hiện, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) đã góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh mới hiện nay, yêu cầu mới về xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, hội nhập sâu rộng quốc tế và nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và thông qua thực tiễn thi hành trong hơn 10 năm qua, BLTTHS cũng đã bộc lộ những vướng mắc, những bất cập và không còn phù hợp ở một số quy định. Vì vậy, Quốc hội khóa XIII đã có Nghị quyết giao cho Viện kiểm sát nhân tối cao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan nghiên cứu để xây dựng Dự thảo BLTTHS sửa đổi, bổ sung. Tại Kỳ họp thứ 10 vừa qua, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLTTHS sửa đổi và Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2016.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày về một số sửa đổi, bổ sung của BLTTHS năm 2015.

I. Những định hướng cơ bản của việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS

1. Thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, toàn diện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, các nguyên tắc tư pháp và các quy định khác liên quan đến tố tụng hình sự được quy định trong Hiến pháp năm 2013.

2. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003, tiếp tục kế thừa những quy định đang phát huy tác dụng tích cực trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định để giải quyết vướng mắc, bất cập hoặc không còn phù hợp thực tiễn. Bảo đảm về kỹ thuật lập pháp; về tính cụ thể, rõ ràng, minh bạch và tính khả thi của các quy định trong BLTTHS.

3. Tiếp tục áp dụng mô hình tố tụng thẩm vấn pha trộn với mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

4. Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đặc biệt là phù hợp với BLHS, các luật, pháp lệnh khác mới được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành.

5. Nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tố tụng của các nước phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam; đồng thời tạo cơ sở pháp lý trong hợp tác quốc tế về đấu tranh chống tội phạm.

II. Những sửa đổi, bổ sung cơ bản của BLTTHS năm 2015

1. Giới thiệu chung

BLTTHS năm 2015 gồm 09 phần, 36 chương và 510 điều.

- Phần thứ nhất: Những quy định chung; gồm 08 chương, từ Điều 1 đến Điều 142.

- Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự; gồm 09 chương, từ Điều 143 đến Điều 235

- Phần thứ ba: Truy tố; gồm 02 chương, từ Điều 236 đến Điều 242

- Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự; gồm 03 chương, từ Điều 250 đến Điều 362.

- Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án; gồm 02 chương, từ Điều 263 đến 369.

- Phần thứ sáu: Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; gồm 03 chương, từ Điều 370 đến Điều 412.

- Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt; gồm 07 chương, từ Điều 413 đến Điều 490.

- Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế; gồm 02 chương, từ Điều 419 đến Điều 508.

- Phần thứ chín: Điều khoản thi hành gồm 02 Điều 509 và 510.

2. Phần thứ nhất: Những quy định chung

2.1. Chương 1: Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS

- Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Phạm vi điều chỉnh của BLTTHS được tách ra từ quy định tại Điều 1 BLTTHS năm 2003 và có sửa từ “công dân” thành “cá nhân”; bổ sung trình tự tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm” để mở rộng việc bảo vệ quyền con người.

Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự”.

Như vậy tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm là một hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của BLTTHS. Quy định mới này nhằm khắc phục vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.

- Nhiệm vụ của BLTTHS ( Điều 2)

Về cơ bản, nhiệm vụ của BLTTHS vẫn kế thừa quy định tại Điều 1 BLTTHS năm 2003 nhưng đã bổ sung cụ thể hơn nhiệm vụ “bảo vệ quyền con người, quyền công dân” và nhiệm vụ này còn được đặt trước nhiệm vụ “bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…” Đây là một quy định rất mới nhằm thể hiện tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013.

Tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của BLTTHS là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, việc đặt nhiệm vụ này cao hơn cả nhiệm vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước thì cũng không thật đúng lắm. Bộ luật hình sự là luật về nội dung, đặt ra nhiệm vụ đầu tiên là bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa rồi mới đến nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân (Điều 1 BLHS năm 2015). Lẽ ra, BLTTHS cũng phải có nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh đất nước và cũng phải đặt lợi ích của chế độ, của Nhà nước lên trên lợi ích cá nhân như xác định của BLHS. Tổ quốc, lợi ích của Tổ quốc phải là trên hết, đó là quan điểm xuyên suốt của Đảng, của nhân dân Việt Nam. Phải chăng việc sắp xếp trật tự bảo vệ của Điều 2 BLTTHS đã tạo ra sự thiếu nhất quán giữa luật hình thức và luật nội dung?

- Giải thích từ ngữ ( Điều 4)

BLTTHS bổ sung một điều về giải thích từ ngữ ở khoản 1 Điều 4, khoản 2 Điều này không phải là giải thích từ ngữ mà là quy định về cách gọi tắt tên của các cơ quan tiến hành tố tụng. Chẳng hạn “Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương sau đây gọi là TAND cấp huyện”.

- Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm (Điều 5)

Trước đây, BLTTHS năm 2003 coi quy định này là một nguyên tắc (Điều 25 BLTTHS năm 2003). BLTTHS năm 2015 không xác định đây là nguyên tắc nên đã đưa quy định này ra khỏi chương các nguyên tắc cơ bản và sắp xếp vào chương I: phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ.

So với Điều 25 BLTTHS năm 2003 thì điều luật này được thiết kế lại thành 06 khoản, quy định chặt chẽ và cụ thể hơn nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan nhà nước nói chung, của cơ quan thanh tra, kiểm toán nói riêng và xác định tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm là quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân.

Khoản 6 quy định “Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ”.

Như vậy, điều luật không nghiêm cấm can thiệp vào hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ”. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định “Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Thẩm phán, Hội thẩm là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, điều luật không nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm là không đầy đủ, chưa thể hiện đúng quy định của Hiến pháp. Can thiệp vào hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hành vi bị nghiêm cấm. Nếu điều luật này bổ sung “Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ” thì đầy đủ và đúng tinh thần của Hiến pháp.

- Phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội (Điều 6)

Khoản 1 Điều 6 giữ nguyên tinh thần của Điều 27 BLTTHS năm 2003 và chỉ bổ sung quyền “kiến nghị” các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa.

Khoản 2 của Điều này quy định cụ thể “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị, cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.”

Đây là một quy định mới, khắc phục quy định có tính chất chung chung của Điều 27 BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 cũng xác định quy định này không phải là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nên đã đưa ra khỏi chương những nguyên tắc cơ bản.

2.2. Chương 2: Những nguyên tắc cơ bản

BLTTHS năm 2003 dành một chương để quy định 30 nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự. Xác định rõ nguyên tắc là “tư tưởng chỉ đạo, điểm xuất phát trong việc xây dựng và thực hiện BLTTHS” nên một số những quy định không phải là nguyên tắc được đưa ra khỏi chương này, đồng thời bổ sung một số nguyên tắc mới nhằm thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013.      

Chương 2 bao gồm 27 điều, từ Điều 7 đến Điều 23 và đó là 27 nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự. Chúng tôi chỉ trình bày về một số sửa đổi, bổ sung của Chương này mà không trình bày cụ thể về từng nguyên tắc. Nhìn chung, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự như: bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; tôn trọng và bảo vệ quyền con người; quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân; xác định sự thật của vụ án; bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia; Tòa án xét xử tập thể; Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai; chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm; tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự; giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự… vẫn được kế thừa tinh thần của BLTTHS năm 2003, nhưng có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Bổ sung, sửa đổi một số nguyên tắc

- Suy đoán vô tội (Điều 13)

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi dược chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Về thực chất thì đây không phải là một nguyên tắc mới của pháp luật tố tụng hình sự vì nó đã được thể hiện tại Điều 9 BLTTHS năm 2003 “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”

Suy đoán vô tội là một thuật ngữ pháp lý mà không phải ai cũng hiểu về nội dung của nó. Đây là một nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự được BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm vào Điều 9 của BLTTHS năm 2005 và gọi đúng tên của nguyên tắc này cho phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013.

- Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia (Điều 22)

“Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án và Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định”.

Điều luật này đã bỏ quy định “Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” vì cho rằng đã thể hiện ở các nguyên tắc khác như “Tòa án xét xử tập thể” hoặc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này vì những thành viên trong Hội đồng xét xử sơ thẩm phải ngang quyền với nhau thì mới bảo đảm xét xử tập thể, biểu quyết theo đa số. Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử vụ án là một nguyên tắc đã được quy định ngay từ ngày thành lập nước và được coi là một nguyên tắc bảo đảm sự tham gia của nhân dân trong xét xử của Toà án; đồng thời đề cao vị trí, vai trò của Hội thẩm. Tuy điều luật bỏ quy định này nhưng chúng ta phải hiểu là khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, ý kiến của Hội thẩm luôn là đa số.

- Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai (Điều 25)

Xét xử công khai là nguyên tắc được quy định tại Điều 18 BLTTHS năm 2003. Điều 25 BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm “xét xử kịp thời, công bằng” nhằm thể hiện quy định tại khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 “Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai”.

- Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16)

Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.

Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “ Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.

Như vật, Điều 16 quy định “người bị buộc tội” là bao hàm cả người bị bắt, người tạm giữ, bị can, bị cáo. Quy định này không cụ thể và rõ ràng như quy định của Hiến pháp và đã tạo ra cách suy luận như trên.

- Xác định sự thật của vụ án (Điều 15)

Điều luật này kế thừa quy định của Điều 10 BLTTHS năm 2003, nhưng đã thiết kế lại là đảo khổ thứ 2 lên khổ đầu của điều luật nhằm khẳng định rõ hơn:

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự của người bị buộc tội”.

Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội có nghĩa là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền khai hoặc không khai báo. Về bản chất, đây là “quyền im lặng”. Trong quá trình xây dựng BLTTHS năm 2015, đã có nhiều ý kiến đề nghị cần phải quy định quyền này của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Mặt khác, mặc dù BLTTHS năm 2003 đã có những quy định “ ẩn” về vấn đề này nhưng chưa bao quát đầy đủ nội dung của “quyền im lặng”. Việc người bị buộc tội không khai báo, không đưa ra chứng cứ bất lợi cho họ là quyền chứ không phải là “ ngoan cố” để tăng nặng trách nhiệm hình sự với người bị buộc tội.

Tuy nhiên, vì lý do nhạy cảm nào đó, Luật tố tụng không quy định rõ ràng, minh bạch về quyền im lặng mà nhiều quốc gia đã quy định trong pháp luật tố tụng của họ. Chúng tôi cho rằng đó là sự thiếu minh bạch trong quy định của pháp luật và thiếu đi cơ sở pháp lý quan trọng để người bị buộc tội căn cứ vào đó thực hiện quyền cơ bản của mình.

- Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 23)

Điều luật được bổ sung chế tài xử lý các trường hợp vi phạm nguyên tắc này “Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật”.

Nếu vi phạm mà tính chất, mức độ nghiêm trọng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS. Đây là các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, Chương XXIV của BLHS năm 2015 “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp” lại không có điều luật nào quy định xử lý đối với các hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, chúng tôi đã đề xuất cần quy định tội “can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” vì đây là quy định nghiêm cấm của Hiến pháp, nhưng không được chấp nhận. Như vậy, việc can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm không thể xử lý bằng pháp luật hình sự được và đây cũng là sự “ khập khiễng” giữa luật hình thức và luật nội dung.

- Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26)

Đây là nguyên tắc Hiến định của khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013. Mô hình tố tụng hình sự Viêt Nam là mô hình pha trộn giữa mô hình thẩm vấn và mô hình tranh tụng, trong đó thiên về thẩm vấn. Hiến pháp quy định nguyên tắc này nhằm hướng mô hình tranh tụng hình sự Việt Nam phải tiếp thu, lựa chọn nhưng ưu việt của mô hình tố tụng thẩm vấn kết hợp với mô hình tố tụng tranh tụng của một số quốc gia trên thế giới, tiếp tục thực hiện mô hình tố tụng thẩm vấn kết hợp với mô hình tố tụng tranh tụng một cách hài hòa. Đây là một nguyên tắc đòi hỏi hoạt động tố tụng nói chung, đặc biệt là hoạt động xét xử nói riêng phải đảm bảo tranh tụng giữa người có thẩm quyền tiến hành tố tụng với những người tham gia tố tụng khác trong vụ án. Những người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều có quyền như nhau trong việc đưa ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, các yêu cầu có thể được đặt câu hỏi khi Hội đồng xét xử thẩm vấn và có quyền tranh luận dân chủ, bình đẳng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phải có trách nhiệm bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại tại phiên tòa. Những vấn đề không được thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì không được quyết định trong bản án.

- Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (Điều 27)

Đây là nguyên tắc cụ thể hóa nguyên tắc Hiến định của khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013. BLTTHS năm 2003 đã quy định nguyên tắc “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử” tức là khẳng định Tòa án xét xử theo hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Hiến pháp năm 2013 sửa là ”Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” nhưng bản chất của quy định này vẫn là bảo đảm chế độ hai cấp xét xử, tức là Tòa án chỉ xét xử theo hai cấp, không có cấp xét xử thứ ba.

Hai là: Loại bỏ những quy định không phải là nguyên tắc

- Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

- Phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội.

- Giám đốc việc xét xử.

2.3. Chương III: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

- Về người tiến hành tố tụng

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 đã có quy định về một số chức danh tư pháp mới. Để phù hợp với quy định của các luật nêu trên. Điều 34 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm những người tiến hành tố tụng  gồm: Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên; đồng thời cũng quy đinh rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng này tại các Điều 38 (đối với Cán bộ điều tra), Điều 43 (đối với Kiểm tra viên) và Điều 48 (đối với Thẩm tra viên).

- Về cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. (Điều 35).

Điều luật bổ sung cơ quan Kiểm ngư là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 9 và Điều 36 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định cụ thể trong Điều 35 là: các cơ quan của Bộ đội biên phòng; các cơ quan của Hải quan ; các cơ quan của Kiểm lâm ; các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển ; các cơ quan Kiểm ngư ; các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

2.4. Chương IV: Người tham gia tố tụng

- Điều 55 quy định 20 người có tư cách tham gia tố tụng khác nhau trong vụ án hình sự. So với BLTTHS năm 2003 thì người được xác định có tư cách tham gia tố tụng được bổ sung thêm các trường hợp, đó là: người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người chứng kiến; người định giá tài sản; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của pháp luật.

Đối với mỗi người tham gia tố tụng, BLTTHS  đều có quy định riêng về các quyền và nghĩa vụ của họ (từ Điều 56 đến Điều 70). Đối với một số tư cách tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… BLTTHS cũng có một số sửa đổi, bổ sung;Vv dụ: Bị can, bị cáo là người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 60 và Điều 61).

- Điều 62 quy định bị hại (thay cho người bị hại) là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

Như vậy, bị hại có thể là cá nhân và có thể là pháp nhân (cơ quan, tổ chức). Tuy nhiên, cơ quan, tổ chức đó phải bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Đe dọa gây ra tức là chưa có hậu quả thiệt hại về tài sản xảy ra, nhưng có thể có thiệt hại về uy tín. Quy định này có tính trừu tượng, khó phân định chính xác uy tín bị thiệt hại đến mức độ nào và trong các tội phạm cũng không coi thiệt hại về uy tín là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt.

- Điều 63 quy định nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vậy khi nào thì cá nhân, cơ quan,  tổ chức là bị  hại và khi nào thì là nguyên đơn dân sự. Đây là hai tư cách tham gia tố tụng hình sự khác nhau và có quyền, nghĩa vụ khác  nhau. Thiệt hại trong trường hợp được xác định là nguyên đơn; có khác các thiệt hại được nêu cụ thể khi xác định là bị hại không; nếu khác thì khác ở những điểm nào? Chúng tôi cũng không lý giải được vấn đề này.

Mặt khác, trong trường hợp cơ quan, tổ chức được xác định là bị hại nhưng cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có bị dẫn giải theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 62 không. Nếu có thì dẫn giải người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức chứ không phải là dẫn giải cơ quan, tổ chức đó được.

Điều 62 BLTTHS đã bỏ quy định “nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu bởi Điều 383 BLHS năm 2015 không quy định người bị hại là chủ thể của tội này.

Khoản 5 Điều 62 quy định: “5. Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại Điều này”.

Như vậy, đây là một quy định mở rộng phạm vi của người đại diện cho người bị hại nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của họ và người thân thích của họ. Người bị mất tích, người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện của họ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị hại.

2.5. Chương V: Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

- Người bào chữa (Điều 72)

Luật trợ giúp pháp lý có quy định chức danh Trợ giúp viên pháp lý và họ thực hiện nhiệm vụ bào chữa miễn phí cho các đối tượng thuộc diện chính sách. BLTTHS đã bổ sung Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội  thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Nhằm đảm bảo quyền bào chữa, quyền nhờ người bào chữa của người bị buộc tội, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, BLTTHS đã bổ sung nhiều quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng như các quyền: được gặp, được hỏi người bị buộc tội; đề nghị tiến hành hoạt động theo quy định của BLTTHS; đề nghị triệu tập người làm chứng; người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền thu thập chứng cứ; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án; đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá tài sản.

Bên cạnh đó, BLTTHS cũng bổ sung một số nghĩa vụ của người bào chữa như không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và cũng không được sử dụng các thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa)

BLTTHS năm 2015 quy định người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ trong trường hợp người bị buộc tội bị bắt, bị tạm giữ (Điều 74. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng)

- Chỉ định người bào chữa (Điều 76)

Điều luật đã mở rộng phạm vi những người phải chỉ định người bào chữa đối với những người bị buộc tội ở khung hình phạt có mức cao nhất là 20 năm tù, tù chung thân (BLTTHS năm 2003 chỉ quy định chỉ định người bào chữa khi người bị buộc tội ở khung hình phạt có mức hình phạt cao nhất là tử hình).

- Thủ tục đăng ký bào chữa (Điều 78)

BLTTHS năm 2003 quy định thủ tục “Cấp giấy chứng nhận bào chữa” cho người bào chữa. Giấy chứng nhận bào chữa chỉ có giá trị đối với giai đoạn tố tụng của nơi cấp giấy này. Ở giai đoạn tố tụng khác, người bào chữa phải xin cấp lại giấy chứng nhận bào chữa. Rõ ràng quy định của pháp luật tố tụng hình sự đó gây rất nhiều khó khăn cho người bào chữa, đặc biệt cho các Luật sư. Luật sư được Nhà nước cấp Thẻ Luật sư tức là Nhà nước công nhận và cho phép họ được hành nghề luật sư. Người bào chữa hoặc Luật sư thực hiện nhiệm vụ bào chữa trên cơ sở có yêu cầu mời họ bào chữa của người bị buộc tội; đại diện của người bị buộc tội hoặc người thân thích của họ hoặc thực hiện nhiệm vụ theo chỉ định của Tòa án; các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác hoặc sự phân công của Trung tâm trợ giúp pháp lý.

BLTTHS năm 2015 đã bỏ thủ tục “Cấp giấy chứng nhận bào chữa” bằng “thủ tục đăng ký bào chữa”. Quy định tại khoản 6 Điều này là một quy định rất tiến bộ: “6. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:

a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;

b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa”.

Khoản 7 của Điều này quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền hủy bỏ việc đăng ký bào chữa và thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ khi thuộc một trong các trường hợp:

“a) Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;

  b) Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa”.

Đây cũng là trường hợp mà văn bản thông báo người bào chữa không còn giá trị sử dụng. Điều luật không quy định khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa thì quyết định hủy bỏ này phi thông báo cho người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ biết về việc hủy bỏ này, tức là người bào chữa không được tiếp tục tham gia tố tụng, không được quyền bào chữa cho thân chủ của họ nữa. Có hai vấn đề đặt ra khi Luật quy định việc hủy bỏ đăng ký bào chữa:

Một là: Người bào chữa có phải thông báo lại cho thân chủ của mình hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định bào chữa, Trung tâm trợ giúp pháp lý để thay đổi người bào chữa khác không? Luật không quy định vấn đề này là trực tiếp ảnh hưởng đến quyền nhờ người bào chữa của người bị buộc tội.

Hai là: khoản 1 Điều 77 BLTTHS năm 2015 quy định:

“Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này” (b. Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi).

Như vậy hủy bỏ đăng ký bào chữa không thuộc trường hợp này. Giả sử người bị buộc tội không đồng ý thay đổi người bào chữa thì giải quyết thế nào? Có thể vấn đề chúng tôi nêu ra ít gặp trong thực tiễn nhưng không có nghĩa là không xảy ra và cần phải có hướng dẫn thực hiện thống nhất.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (Điều 83)

Đây là một quy định mới trong BLTTHS.

“1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người được người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có thể là:

a) Luật sư;

b) Bào chữa viên nhân dân;

c) Người đại diện;

d) Trợ giúp viên pháp lý.”

Các quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố được quy định cụ thể tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 84)

Về cơ bản, điều luật này kế thừa quy định của Điều 59 BLTTHS năm 2003, nhưng có bổ sung, thiết kế lại điều luật rõ ràng hơn.

+ Quy định rõ những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là: Luật sư, người đại diện, bào chữa viên nhân dân, Trợ giúp viên pháp lý.

+ Các quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự được quy định cụ thể, rõ ràng tại khoản 3 và khoản 4 của điều luật này.

2.6. Chương VI. Chứng minh và chứng cứ

- Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự (Điều 85)

“Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:

1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

3. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về thân nhân của bị can, bị cáo;

4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

6. Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự. miễn hình phạt”.

So với Điều 63 của BLTTHS năm 2003, thì điều luật này đã bổ sung thêm khoản 5 và khoản 6.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào (điều tra, truy tố, xét xử), Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án đều phải thực hiện trách nhiệm chứng minh tội phạm. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục người bị buộc tội không có tội (Điều 13 Suy đoán vô tội). Không làm sáng tỏ được căn cứ buộc tội cũng có nghĩa là không chứng minh được tội phạm.

Khi đã chứng minh được tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn phải chứng minh các vấn đề quy định tại Khoản 2, 3, 4, 5 và 6 của điều luật này vì đây là những tình tiết rất quan trọng để xác định có tội hay không có tội (trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự) hoặc đó là các tình tiết là căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt. Mục đích, động cơ, nguyên nhân, điều kiện, những tình tiết khác của vụ án đều là những căn cứ để Tòa án quyết định có thể miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt không, có cần thiết phải áp dụng hình phạt tù không, có thể áp dụng khung hình phạt nào của điều luật được áp dụng, có cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù không hay có thể cho bị cáo được hưởng án treo, có thể áp dụng các hình phạt khác không phải là hình phạt tù không (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ).

Đặc biệt, khoản 2 Điều 50 BLHS quy định: “2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội”. Như vậy, tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội khi Tòa án áp dụng hình phạt tiền cũng là một trong những vấn đề mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh. Nếu không chứng minh được vấn đề này, tức là không có căn cứ về tình hình tài sản và khả năng thi hành hình phạt tiền, thì Tòa án không được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính.

Lẽ ra Điều 85 phải bổ sung vấn đề này thì mới bảo đảm phù hợp với quy định của BLHS. Chúng tôi cho rằng đây là một thiếu sót của BLTTHS, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 50 BLHS để thực hiện trách nhiệm chứng minh “tình hình tài sản, khả năng thi hành” của người phạm tội, không vì Luật tố tụng không quy định mà không thực hiện.

- Chứng cứ (Điều 86)

       “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp , xác thực và liên quan đến vụ án. Mọi chứng cứ đã thu thập được đều phải kiểm tra, đánh giá khách quan, đầy đủ và toàn diện mới có thể chứng minh có hay không có tội phạm. Chứng cứ chính là công cụ duy nhất để chứng minh hay việc chứng minh các vấn đề của vụ án hình sự đều phải dựa vào chứng cứ.

- Nguồn chứng cứ (Điều 87)

Điều 87 là một quy định mới của BLTTHS năm 2015 nhằm khẳng định rõ ràng về chứng cứ; cụ thể như sau:

      “1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:

a) Vật chứng;

b) Lời khai, lời trình bày;

c) Dữ liệu điện tử;

d) Kết luận giám định, định giá tài sản;

đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;

e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;

g) Các tài liệu, đồ vật khác.

2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”.

Khoản 1 xác định rõ “dữ liệu điện tử”, “biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” là chứng cứ nếu được thu thập theo trình tự, thủ tục của BLTTHS.

Khoản 2 Điều này khẳng định những gì có thật (là chứng cứ) nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục của BLTTHS thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự, tức là không được xác định là chứng cứ.

Đây là những quy định rất quan trọng việc thu thập, xác định chứng cứ. Thu thập không đúng nguồn chứng cứ, xác định sai chứng cứ, đánh giá sai chứng cứ… đều dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, đặc biệt những sai lầm này của Tòa án sẽ dẫn tới kết án oan người không có tội, bỏ lọt tội phạm, quyết định hình phạt không đúng hoặc quyết định về các vấn đề khác của vụ án cũng không đúng.

- Thu thập chứng cứ (Điều 88)

Thu thập chứng cứ là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Người bào chữa cũng có quyền thu thập chứng cứ; những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.

Việc  tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án đều phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của BLTTHS.

Lời khai của bị can, bị cáo (Điều 98)

Lời khai của bị can, bị cáo là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng được dùng để chứng minh tội phạm. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.

2.7. Chương VII. Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế

Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế là những biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Do đó việc quy định và áp dụng các biện pháp này phải rất thận trọng. BLTTHS năm 2003 cũng đã có những quy định về các biện pháp cưỡng chế nhưng không tập trung mà quy định rải rác trong một số chương nên vừa không thuận tiện trong việc áp dụng, vừa không bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ trong thiết kế điều luật và kỹ thuật lập pháp. BLTTHS năm 2015 đã xây dựng Chương VII: Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Chương này được thiết kế thành hai mục: mục 1 về “Biện pháp ngăn chặn” và mục 2 về “Biện pháp cưỡng chế”.

* Các biện pháp ngăn chặn (Điều 109)

Các biện pháp ngăn chặn gồm: biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để đảm bảo, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.

Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một biện pháp mới được bổ sung nhằm thực hiện đúng tinh thần của khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”.

Khoản 2 Điều 109 quy định:“2. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.”

Khi áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì lệnh giữ người không cần phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay. Những người có thẩm quyền quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 110 phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt hoặc trả tự do ngay cho người bị giữ (khoản 4 Điều 110).

- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 113)

“1. Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can bị cáo để tạm giam:

a) Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước đi thi hành;

b) Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử;

+ Theo quy định tại Khoản 2 Điều này thì “Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.”

 (Nơi khác là nơi không phải nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị bắt).

Như vậy, các trường hợp bắt bị cáo tại phiên tòa cũng phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi Tòa án có trụ sở hoặc nơi Tòa án tổ chức phiên tòa lưu động.

+ Khoản 3 Điều này quy định “Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.”

Chúng tôi cho rằng luật nên quy định cả trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Đã là khẩn cấp thì việc bắt, giữ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Luật không loại trừ trường hợp này là thiếu sót.

- Tạm giam (Điều 119)

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn cứng rắn, nghiêm khắc mà các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng. Tạm giam ảnh hưởng trực tiếp đến bị can, bị cáo và gia đình họ. Tạm giam hạn chế quyền tự do của bị can, bị cáo; do đó việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam được BLTTHS quy định chặt chẽ. Chỉ khi có căn cứ theo quy định của Điều 119 BLTTHS thì mới được áp dụng biện pháp tạm giam. Các căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam là:

“1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

2. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

3. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

b) Tiếp tục phạm tội;

c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này;

d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hiểm đến an ninh quốc gia”.

Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 BLTTHS có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh bắt để tạm giam của cơ quan điều tra phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp Lệnh tạm giam của Tòa án không cần có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát vì theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân…”.

BLHS có 26 tội không quy định hình phạt tù ở khoản 1. Đây là những trường hợp không được bắt tạm giam.

- Tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124)

Tạm hoãn xuất cảnh là một biện pháp ngăn chặn mới được quy định trong BLTTHS năm 2015 để phù hợp với Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú… năm 2014.

“1. Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn:

a) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;

b) Bị can, bị cáo.

2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.

3. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù”.

Tạm hoãn xuất cảnh có thể được áp dụng nếu xét thấy bị can, bị cáo, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có dấu hiệu bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Quy định này nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử kịp thời.

Tuy nhiên, về kỹ thuật lập pháp của điều luật này không thật khoa học khi trong khoản 1 chỉ quy định dấu hiệu bỏ trốn, nhưng trong điểm a của khoản 1 vừa nhắc lại dấu hiệu bỏ trốn, vừa thêm dấu hiệu tiêu hủy chứng cứ. Điểm b chỉ quy định “bị can, bị cáo”, nếu theo quy định của điều luật thì chỉ ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị can, bị cáo khi có dấu hiệu bỏ trốn, còn nếu có dấu hiệu tiêu hủy chứng cứ thì không phải là căn cứ để ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Chúng tôi cho rằng bị can, bị cáo có dấu hiệu bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ đều cần phải áp dụng biện pháp ngăn chặn này để bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử thuận lợi, nhanh chóng, kịp thời. Nếu quan điểm này của chúng tôi đúng và cũng phù hợp với quan điểm của nhà làm luật và tinh thần của điều luật này nên thiết kế như sau:

Điều 124: Tạm hoãn xuất cảnh

“1. Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn xứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ:

a) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm;

b) Bị can, bị cáo”.

Cũng không cần thiết phải quy định “Xét thấy cần ngăn chặn ngay” vì cần ngăn chặn, cần áp dụng biện pháp ngăn chặn này là sự đánh giá của những người có thẩm quyền quyết định khi có căn cứ áp dụng biện pháp này.

* Các biện pháp cưỡng chế (Điều 126)

“Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản”.

- Phong tỏa tài khoản (Điều 129)

Phong tỏa tài khoản là một biện pháp cưỡng chế mới được quy định trong BLTTHS năm 2015. Phong tỏa tài khoản chỉ áp dụng đối với người bị buộc tội về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ xác định người đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc kho bạc Nhà nước. Phong tỏa tài khoản cũng được áp dụng đối với tài khoản của người khác nếu có căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội.

Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của BLTTHS, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản. Lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan điều tra phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.

- Hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản (Điều 130)

Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải bị hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

+ Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án.

+ Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can.

+ Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội.

+ Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.

+ Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy không cần thiết phải áp dụng các biện pháp này nữa.

3. Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự

3.1 Chương IX: Khởi tố vụ án hình sự

- Căn cứ khởi tố vụ án hình sự (Điều 143)

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú.

BLTTHS năm 2003 cũng đã có quy định về tin báo, tố giác tội phạm và việc giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên BLTTHS năm 2003 quy định không cụ thể nên khi thi hành các quy định này gặp vướng mắc, Viện kiểm sát không nắm chắc được nguồn tin báo, tố giác tội phạm từ phía cơ quan điều tra.

BLTTHS năm 2015 đã quy định chặt chẽ hơn trong việc: bổ sung thêm căn cứ “kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước” và bổ sung thêm Điều 144 để quy định về các khái niệm tố giác về tội phạm, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Quy định cụ thể về thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 146). Quy định cụ thể về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 147). Quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết, các vấn đề về tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết, tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm…

Những quy định cụ thể, chặt chẽ nên trên của BLTTHS năm 2015 tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực tiễn thi hành vì về cơ bản, các vướng mắc đã được tháo gỡ.

- Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự (Điều 153)

“1. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết theo quy định tại các khoản 2,3,4 Điều này.

2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ luật này.

3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử”.

4. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

- Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại (Điều 155)

Về cơ bản khoản 1 của điều luật này được kế thừa quy định của Điều 105 BLTTHS năm 2003, chỉ có một số sửa đổi nhỏ là bỏ không quy định tội vi phạm quyền tác giả vì tội này không được quy định nữa trong BLTTHS năm 2015.

Khoản 2 của điều luật có sửa đổi rất quan trọng trong “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án”.

Như vậy, trong quá trình tố tụng (ở giai đoạn tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, tuy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm) mà người yêu cầu khởi tố vụ án hình sự (bị hại, người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết) rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ nếu không có căn cứ là việc rút yêu cầu khởi tố trái ý muốn của người đã yêu cầu khởi tố do bị ép buộc, cưỡng bức.

Điều 105 BLTTHS năm 2003 quy định vụ án chỉ được đình chỉ trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm là hạn chế rất lớn quyền của người yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Quy định của Điều 155 BLTTHS năm 2015 đã mở rộng tối đa quyền của người yêu cầu khởi tố, họ có thể rút yêu cầu khởi tố bất cứ lúc nào. Điều luật cũng bổ sung người đại diện của bị hại trong trường hợp bị hại đã chết.

3.2. Chương XVI: Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Vấn đề quy định biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong BLTTHS là vấn đề có nhiều quan điểm đồng tình và không đồng tình. Quan điểm đồng tình cho rằng trong thực tiễn điều tra, cơ quan điều tra cũng đã sử dụng một số biện pháp nghiệp vụ trong quá trình điều tra một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, các vụ án có tổ chức, các vụ án phức tạp. Mặt khác cần luật hóa các biện pháp điều tra đặc biệt để bảo đảm yêu cầu của Hiến pháp là “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật…”, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Quy định biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt sẽ giúp cho việc tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, giúp cho việc thu thập chứng cứ đầy đủ và có giá trị pháp lý trực tiếp chứng minh tội phạm.

Quan điểm không đồng tình e ngại việc lạm dụng biện pháp điều tra đặc biệt xâm phạm quyền con người, quyền công dân, tạo ra mối lo ngại trong cuộc sống, không yên tâm của người dân.

BLTTHS năm 2015 đã quy định Chương XVI: Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, tức là các biện pháp điều tra đặc biệt phải tuân thủ tố tụng.

- Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 223)

“Sau khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:

1. Ghi âm, ghi hình bí mật;

2. Nghe điện thoại bí mật;

3. Thu giữ bí mật dữ liệu điện tử”.

Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt này chỉ được áp dụng sau khi đã khởi tố vụ án. Trước khi khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sử dụng các biện pháp trinh sát thông thường, không được áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Nếu áp dụng là trái pháp luật và các chứng cứ thu thập được không có giá trị pháp lý, tức là không được coi là chứng cứ để dùng vào việc chứng minh tội phạm.

- Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 224)

Không phải mọi vụ án, mọi tội phạm xảy ra đều có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt mà biện pháp này chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

+ Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền.

+ Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Để tránh việc lạm dụng hoặc tùy tiện áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt này, BLTTHS quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 225); quy định về thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 226); quy định về việc sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 227) và quy định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt khi có vi phạm trong quá trình áp dụng hoặc không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp này nữa (Điều 228).

4. Phần thứ ba: Truy tố

Phần thứ ba: Truy tố được thiết kế thành 02 Chương:

Chương XVIII: Những quy định chung, gồm 07 điều, từ Điều 236 đến Điều 242.

Chương XIX: Quyết định việc truy tố bị can, gồm 07 điều, từ Điều 243 đến Điều 249.

Trong thực tiễn, việc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đã được BLTTHS năm 2003 quy định, tuy nhiên việc thực hiện của các cơ quan này chưa thật nghiêm túc, không ít trường hợp “lách luật”. Để tránh các vi phạm về thời hạn giam, thời hạn truy tố, thời hạn xét xử, làm cho vụ án bị kéo dài, ảnh hưởng đến quyền của bị cáo, bị hại, đương sự trong vụ án, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung các quy định chặt chẽ về vấn đề này.

- Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung (Điều 245)

“1. Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;

b) Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác;

c) Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can;

d) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”.

- Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án (Điều 246)

“Trường hợp Tòa án quyết định trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát phải xem xét căn cứ của việc yêu cầu điều tra bổ sung và giải quyết như sau:

1. Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ; trường hợp Viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo trạng trước đó thì Viện kiểm sát phải ra bản cáo trạng mới thay thế và chuyển hồ sơ đến Tòa án. Trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết.

2. Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung không có căn cứ thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do, giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án”.

Khoản 1 của Điều này có vấn đề quy định chưa rõ ràng, cụ thể. Đó là trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo trạng trước đó thì Viện Kiểm sát phải ra bản cáo trạng mới thay thế và chuyển hồ sơ đến Tòa án. Bản cáo trạng trước đó là bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can và gửi cho Cơ quan điều tra, người bào chữa (khoản 2 Điều 240 - Thời hạn quyết định việc truy tố). Bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng đã giao có thay đổi cơ bản về nội dung so với bản cáo trạng đã giao. Vậy trong trường hợp này Viện Kiểm sát có phải thực hiện lại việc giao bản cáo trạng mới không. Chúng tôi cho rằng đó là điều bắt buộc vì trực tiếp ảnh hưởng đến quyền của bị can, của những  người tham gia tố tụng khác, trong đó có người bào chữa. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định cụ thể và rõ ràng vấn đề này, chúng tôi cho rằng đây là một sai sót đáng tiếc.

Hoặc cũng trong quy định của khoản 1 Điều này chỉ quy định “Trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ vụ án thì Viện Kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết”. Theo quy định tại Điều 248 của BLTTHS thì Viện Kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với từng bị can nếu vụ án có nhiều bị can. Trường hợp này Viện Kiểm sát có phải thông báo với Tòa án không vì trước đó Tòa án đã thụ lý vụ án có cả bị can này. Chúng tôi cho rằng quyền truy tố hay không truy tố bị can là quyền của Viện Kiểm sát, nhưng trong trường hợp này Viện Kiểm sát cũng nên thông báo cho Tòa án biết vì sau khi đình chỉ vụ án với một hoặc một số bị can trong vụ án, Viện Kiểm sát sẽ chuyển lại hồ sơ để Tòa án xét xử các bị can còn lại.

- Chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án (Điều 244)

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện Kiểm sát phải chuyển hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án. Nếu vụ án phức tạp thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.

“Trường hợp vụ án có bị can tạm giam thì trước khi hết thời hạn tạm giam 07 ngày, Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị can khi nhận hồ sơ vụ án”.

Quy định này cũng chưa thật chính xác vì Tòa án xem xét quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam chứ không phải là “xem xét, quyết định việc tạm giam”. Nếu viết như vậy dễ dẫn đến hiểu là Tòa án xem xét, quyết định tiếp tục giam bị can. Mặt khác, việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn của Tòa án chỉ được thực hiện khi Tòa án đã thụ lý vụ án chứ không phải là khi nhận vụ án (khoản 1 Điều 278 BLTTHS).

Tuy nhiên, đây là một quy định mới nhằm bảo đảm sự phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong trường hợp xem xét, quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam; tránh trường hợp bị can bị giam giữ quá thời hạn có thể xảy ra trong thời gian chuyển giao, nhận, thụ lý hồ sơ vụ án giữa Viện kiểm sát và Tòa án.

 

Nguyễn Quang Lộc – Nguyên Thẩm phán TAND tối cao

Văn bản mới

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133 - Fax :
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao